Miếng bả

Nhà ông Hồng, chỉ đông người vào buổi tối, ban ngày vắng hoe. Ông như  chiếc bóng. Chỉ có điều lạ, là chiếc bóng suốt ngày lúi húi dưới gốc cây hồng xiêm!

Ngôi nhà có ông Hồng mới đến ở là nhà xây chen giữa hai chung cư cao tầng. Ở hai chung cư, cơ man nào là ông già, tuổi thất tuần, tuổi bát tuần, nhưng chẳng ông nào để râu, đã thế lại còn nhuộm tóc, chỉ riêng ông Hồng thì ngược lại, râu tóc trắng phơ, đối lập với làn da đen xạm. Bộ cánh thì quê một cục. Chân lại đi dép tổ ong, loại dép từ thời bao cấp, người ta hay cắt mũi, để dùng ở nhà nghỉ, phòng chống mất cắp. Đầu nhà ông có cây hồng xiêm, cây hồng có mấy quả chín bói, chim chào mào thường đến rỉa ăn. Ngoài cây hồng xiêm là bức tường ngăn với đường đi nội bộ. Ban đêm, những ngọn đèn đường lập lòe như nhát trẻ con, thi thoảng một vài chiếc lá rơi thầm xuống cỏ.

Nhà ông Hồng, chỉ đông người vào buổi tối, ban ngày vắng hoe. Ông như  chiếc bóng. Chỉ có điều lạ, là chiếc bóng suốt ngày lúi húi dưới gốc cây hồng xiêm!

Minh họa: Nguyễn Đăng Phú.
Minh họa: Nguyễn Đăng Phú.

Tôi ở tầng hai hộp nhà chung cư, nhìn xéo sang nhà ông, thỉnh thoảng lại ngồi ngắm ông vu vơ. Thế rồi những hoạt động của ông làm tôi chú ý. Ông hay ra ban công, nhìn xuống gốc cây hồng xiêm. Nhát lại hối hả chạy xuống, chui tọt vào gốc cây mất hút. Một lúc lại thấy ông ngồi vào chỗ cũ. Có lúc ông ngồi như bụt mọc, như hòn đá mồ côi, có lúc lại trầm tư dáng núi. Ông lạc lõng giữa phố đông, như người ta lạc rừng.

Có lần tôi nhìn thấy ông đang ngồi trên tầng hai, bỗng bật ngửa ra phía sau rất lạ, như có ai tròng dây thừng vào cổ ông giật mạnh. Ông ật ra như người bị trúng gió. Nhưng sau cú ật ngửa ấy, ông lại chạy xuống gốc cây hồng xiêm như ma đuổi. Tôi tiếc là không có chiếc ống nhòm, để nhìn ông cho rõ. Khu nhà ông ở, trước kia là nghĩa địa, hôm đào móng, còn cuốc phải một chiếc tiểu sành. Bên A mang chiếc tiểu chôn vào một góc khuất, giữa hai hộp nhà. Cứ rằm, mồng một, người ta lại đến đấy thắp hương.

Ông trưởng ban A lúc đó, tên là Túc Văn, nên người ta cứ gọi đấy là mộ ông Túc Văn! Không biết ông Hồng có bị ma ám, khi sống trên hộp nhà, mà phía dưới là nghĩa địa? Dưới gốc cây hồng xiêm vẫn còn mồ mả? Ông ật người ra như trúng gió, rồi chui vào gốc cây, để nhận trừng phạt của thần linh từ kiếp trước?

Đêm nguyệt cầm, vầng trăng kỳ ảo, được cắt vụn bởi những nhát phẩy của gió. Những chiếc lá non, cứ hé mắt ghẹo người, có lúc lại giơ tay lên trời hứng gió, hứng cả mây bay. Tôi bỗng sợ mỗi lần đi qua cây hồng xiêm, nên thường chọn đường vòng để đi ra phố. Từ u mê, bước ra cõi thực, con người nên đi đường vòng.

Ông Hồng không phải người thành phố, ông ở mãi làng Hàn, một vùng chiêm trũng, cạnh dòng Châu Giang. Ông già nua, cái già của người nhà quê. Ở nông thôn, người ta chóng già, họ già hơn người thành phố một chuyến đi xa, già hơn vì đêm đêm cứ phải nghe tiếng côn trùng trách móc. Từ khi vợ mất, ông sống một mình. Sống ở nông thôn, có làng có xóm, có quan hệ thân tình dằng dịt, nên đỡ cô đơn. Nếu có cô đơn, thì cũng cô đơn trong vòng tay tình nghĩa, sợ nhất là cô đơn chỉ của riêng mình. Con ông ở thành phố về đón ông đi. Ông đắn đo nửa đi nửa ở. Người khuyên ông nên ở, người bảo ông nên đi, ông ở giữa dùng dằng, cuối cùng đành ra đi, trong ngậm ngùi tiếc nuối.

Khi người già rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, thì trĩu nặng tâm tư, nỗi niềm vây bủa. Ông ra đi mang theo một gánh muộn phiền. Sống ở thành phố, nơi thanh tao lẫn với trần tục, nơi bao dung lẫn với bon chen, nơi kiêu sa lẫn với tầm thường, lúc nào cũng tính chuyện đổi chác, thì ông lại khờ khạo như gà tây đạp mái. Ở với con, ông chẳng thiếu thứ gì, nhưng lúc nào cũng quờ tay vào quá khứ. Ông buồn, nỗi buồn của người xa quê, người thừa ra ở thành phố. Trong các thứ thừa, thì khổ nhất là thừa ra chính mình. Mình không vứt mình đi được, con cái đứa nào dám vứt?

Để giấu đi nỗi buồn, ông thường hý hoáy dưới gốc cây hồng xiêm... Tôi nhìn qua lỗ hổng ở bức tường ngăn, thấy ông buộc hai thanh tre hình cánh cung, bên trong là mảnh lưới, có sợi dây dòng lên ban công tầng hai. Khi ông đặt quả hồng chín vào mép lưới, tôi mới hiểu, ông vào đây để đánh bẫy chim. Những cú ật người ra phía sau, là lúc ông giật mạnh sợi dây để bẫy nó. Con chim khôn lắm, trong các loài chim, thì chào mào khôn vào loại hai sau chim họa mi. Loại hai cũng là khôn rồi, nhưng vẫn là khôn của loài vật, chứ không phải khôn của loài người. Phải mất bốn năm ngày khó nhọc, ông mới bẫy được con chim, không biết con chồng hay con vợ. Nếu là loài cuốc, thì dễ dàng bắt được con thứ hai, bởi vợ chồng nhà cuốc tình nghĩa lắm. Khi một con bị bắt, con kia cứ đến kêu thảm thiết, kêu như than như oán, kêu như u mê mộng mị, không thiết cả ăn uống. Vậy nên, người ta lấy lưỡi con cuốc, sấy khô, tán thành bột, bí mật bỏ vào cốc nước để lừa tình.

Bắt được con chim, ông mừng lắm, bởi từ nay, ông có một người bạn tâm tình. Mới nuôi con chim một ngày, mà ông đã tích trữ bao nhiêu là thứ. Nào là chuối chín, nào là hạt kê, nào là châu chấu rang khô. Nhưng con chim từ khi bị nhốt, lúc nào cũng nhẩy lồng lên để tìm cách thoát thân. Thức ăn nước uống ông để sẵn, nhưng nó không hề nhúng mỏ. Có lần sợ nó đói, ông đã phải nâng mỏ nó lên để bón thức ăn, nhưng nó cứ nhè ra không chịu nuốt. Ông cho rằng nó còn sợ, chưa quen với người.

Một sớm dậy, ra chỗ con chim, ông thấy yên ắng quá, không có động tĩnh gì. Lạy trời, hay nó đã quen với việc nuôi nhốt? Ông rón rén lại gần, thì trời ơi, con chim đã lăn ra chết! Nó chết khi mà thức ăn, nước uống ê hề. Ông không hiểu vì sao nó chết? Ông mở lồng, cầm con chim trên tay, người nó vẫn còn âm ấm. Ông đặt nó lên một miếng vải mềm, rồi lấy vôi tường rắc lên người nó, hy vọng nó sẽ hồi trở lại. Nhưng không, người nó cứ lạnh dần. Ông rùng mình, khi cầm trên tay cái lạnh của chia lìa. Biết không còn cứu vãn được nữa, ông khẽ nâng mỏ nó lên.

Trời đất! Ông kêu lên. Thì ra nó đã cắn lưỡi tự tử! Ông lặng người thờ thẫn, chậm một phút mà thành xa cách… Nó không đợi ông, nó không muốn nhìn mặt ông nữa. Ông đau xót nhìn chiếc lưỡi con chim từ miệng nó rơi xuống đất. Chiếc lưỡi nhỏ xíu, hàng ngày vẫn hót với ban mai, chào giọt sương rơi trên lá, cả những giọt mồ hôi người nông dân suốt ngày lam lũ... Bây giờ tím bầm những máu! Ông ủ con chim vào ngực áo mình, như ủ nỗi đời ấm lạnh, rồi đứng như trời trồng. Nhìn chiếc lưỡi con chim, ông thấy sợ vẩn vơ, sợ cả bàn tay mình. Cái mà nó cần, thì ông tước đoạt, cái mà nó không cần, thì ông cho nó ê hề.

Làm sao một con chim bé bỏng nhường này lại dám cắn lưỡi tự tử? Trong các loại tự tử, thì cắn lưỡi là đau đớn nhất, Không hiểu sao con chim lại chọn cách này? Sao không treo cổ vào nan lồng, sao không tuyệt thực? Có lẽ nó chọn cách cắn lưỡi để ra đi nhanh nhất. Chiếc lưỡi là lời nguyền mà nó để lại! Ông thấy mình mắc nợ giữa trần gian. Nợ tiền thì méo mặt, nợ tình thì khốn nạn, ông đặt miếng bả để lừa con chim thì ông nợ gì?

Ông cầm chiếc lưỡi trên tay, tay ông cũng tím bầm những máu. Chiếc lưỡi bé xíu nhẹ tênh, mà tay ông trĩu nặng. Ông thấy đau ở bả vai, đau sang đốt sống cổ, rồi lan xuống sống lưng. Ông lấy miếng bông, lau vết máu ở lưỡi con chim. Máu này bây giờ không cần cho sự sống, không cần cho cả cái chết. Ông nâng mỏ con chim lên, đặt miếng lưỡi vào chỗ cũ. Ông muốn hàn gắn vết thương cho nó?

Hàn gắn vết thương bằng một vết thương khác đau hơn: Vết thương ông đang nhận cho mình. Trớ trêu thay, chiếc lưỡi cứ rời ra. Nó không cần lòng tốt của ông nữa. Lòng tốt không đặt đúng chỗ cũng chẳng ích gì. Chiếc lưỡi bây giờ chả cần cho ai, chả cần cho chính nó. Ông thấy bủn rủn chân tay, khó thở, phải tựa lưng vào tường thở dốc. Một cơn đau ở ngực làm ông sa sẩm mặt mày.

Ông đặt con chim vào chiếc áo quan. Áo quan là điểm hẹn cuối cùng của mọi kiếp. Áo quan của con chim là hộp đựng quân cờ. Ông mang bộ quân cờ đi để chơi với hàng xóm, nhưng ở thành phố, hàng xóm ít chơi với nhau, nên hộp quân cờ ông cũng chả cần. Chiếc lưỡi ông để vào một miếng bông trắng toát, không biết có ngụ ý gì, hay ông muốn nó tự để tang cho mình?

Đúng lúc ông để chiếc lưỡi con chim vào miếng bông, thì cây hồng xiêm đùng đùng nổi gió. Ông thấy lạnh ở sống lưng, nhìn vào bàn tay thấy nổi da gà, bàn tay sần sùi đỏ au, không còn là bàn tay trần thế. Ông thủ bàn tay vào vạt áo, như muốn giấu nó đi, ông muốn giấu cả ông đi, để người trần mắt thịt không nhìn thấy nữa. Ông đứng tần ngần một lúc, rồi thắp hương, làm một cuộc tiễn đưa khó nhọc, như tiễn đưa mình.

Kiếp con chim cũng chẳng khác kiếp người mấy nỗi. Cũng lận đận kiếm tìm, cũng bon chen giành giật, cũng đớn đau, cũng phù du...Nhìn theo vờn khói bay vòng, có những cuộn tròn nằng nặng cứ bay ngang, làm ông rơi lệ. Chôn con chim dưới gốc cây hồng xiêm, nơi vị thơm ở ngay miếng bả, nơi tiếng hót ở ngay miệng hố chôn mình, nơi miếng ăn phải trả giá bằng mạng sống. Chôn xong, bàn tay vẫn còn vấy máu, ông bám vào chiếc cổng sắt, nhìn ra đường nghĩ ngợi. 

Truyện ngắn của Bùi Nguyên Ngọc

Các tin khác

Đóa hoa nở trong cơn mưa

Đóa hoa nở trong cơn mưa

Mỗi lần Vân đỡ anh dậy, anh vòng tay qua cái cổ ấm áp của cô và áp gò má anh vào má cô. Những lúc như thế, anh cảm thấy run rẩy, anh cảm thấy sức nặng của tấm vải bạt đắp lên chân nặng cả nghìn cân. Anh muốn đứng dậy, bế bổng cô chạy ra khỏi cái cửa hang chết tiệt kia, ra đứng giữa đất trời mà hét lên, mà quay cô mòng mòng như cánh quạt của mấy con “diều hâu” tuần tiễu trên bầu trời.

Một cú đá chết bảy mạng

Một cú đá chết bảy mạng

Ở Vương Gia Trang, có một người đàn ông trung niên tên là A Lương, 42 tuổi. Anh ta là người trung thực, chăm chỉ và sống giản dị. Anh trồng vài mẫu ngô và khoai lang trên sườn đồi phía sau làng và cách vài ngày lại đi nhổ cỏ cho ngô và khoai lang.

Chuyện con nhà lính

Chuyện con nhà lính

Vài ba hành khách khác định ngồi ở chiếc ghế cạnh người lính, nhưng họ nhìn thấy thông báo và bỏ đi. Khi máy bay gần kín chỗ, người lính thấy một cô gái rất xinh đẹp vội vã bước vào khoang máy bay nên anh ta nhanh chóng gỡ tờ thông báo khỏi chiếc ghế trống bên cạnh. Bằng cách ấy, anh lính nọ đã có được một cô gái đồng hành cùng mình trên suốt chặng bay.

Kẻ điên xem hát

Kẻ điên xem hát

Vào thời nhà Thanh, có một kẻ điên sống ở vùng Giang Nam rất mê xem hát kịch. Mỗi khi đi xem hát, hắn thường vừa xem vừa điên điên khùng khùng kéo ống quần của người khác lên nhìn, miệng còn ngâm nga điệu hát: “Chân vàng nhỏ, chân bạc xinh, kéo quần lên cho mình nhìn ngắm…”.

Đi qua dòng sông

Đi qua dòng sông

Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.

Mây trời Huổi Chỏn

Phía ngoài, một khẩu lệnh đanh gọn. Ngay lập tức mũi đột phá gồm ba chiến sỹ cơ động lao thẳng về phía các đối tượng đang chặn đầu tiên, đẩy bật chúng về phía sau. Cực nhanh sau đó, từng tốp hai đồng chí lao vào đánh gục, tước vũ khí, khóa tay các đối tượng. Mấy chục đối tượng hàng sau, hung hãn cầm gậy gộc, vũ khí lao lên nhưng…  hự…ụp…  chúng hoảng loạn quay đầu bỏ chạy.

Vụ cháy hy hữu

Vụ cháy hy hữu

Có một người tên là Hồ Lai, lúc nào cũng nhàn rỗi chẳng có việc gì làm. Anh ta lười biếng và không làm bất cứ công việc nào cho tử tế. Bị gia đình thúc giục, anh ta vay mượn tiền và gom góp đủ để mua một chiếc xe máy cũ rồi bắt đầu buôn bán rau củ.

Không dễ dàng gì

Không dễ dàng gì

A Quý là người bán rau ngoài chợ. Hôm ấy vừa chập tối, anh thu dọn gian hàng đi về thì thấy mấy người hàng xóm đang đứng vây quanh một con chó bàn tán xôn xao.

Chuyện xảy ra trên tàu

Chuyện xảy ra trên tàu

Đoàn tàu khách địa phương dừng lại ở ga để đón tiễn hành khách. Trong số hành khách vừa lên tàu có một cô gái trẻ mặc bộ quần áo rất đẹp và hợp thời trang đang len qua các toa để tìm chỗ ngồi.

Những nẻo đường hoa

Những nẻo đường hoa

Bố làm quen với mẹ từ đó, mẹ cũng mở lòng nghe bố kể chuyện chiến tranh, bố kể cho mẹ nghe cả câu chuyện tình buồn của bố và cô Thảo. Cô ấy hứa sẽ đợi bố đi chiến trận trở về, chiếc khăn tay cô ấy tặng bố còn thêu hai chữ "đợi chờ" bằng sợi chỉ màu đỏ chói. Nhưng, năm 1973, cô ấy gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, chiến tranh không cướp được bố, nhưng đã cướp mất cô Thảo trong một lần tải đạn ra chiến trường.

Mùa hoa trắng không trở lại

Mùa hoa trắng không trở lại

Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.

Sương bên đá núi

Sương bên đá núi

Pháo nghe tiếng "rầm", vội cầm đèn pin chạy ra. Dưới ánh sáng vàng vọt, lão trưởng bản lồm cồm bò dậy, bộ áo chàm rách toạc một mảng ở vai, máu rỉ ra thẫm cả vạt vải. Mắt lão cứ trợn ngược nhìn vào vách đá tối om, mồm lầm bầm: "Nó phạt tao... Con ma dốc nó phạt tao thật rồi, Pháo ơi...".

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Trương Tiểu Dũng bị gãy chân nên phải nhập viện. Trong thời gian này, do bị bó bột nên anh không thể đi lại, may sao trong phòng bệnh có cụ Trần cũng bị thương ở chân nên có thể cùng anh trò chuyện cho đỡ buồn.

Kẻ cắp siêu cấp

Kẻ cắp siêu cấp

Hắc Tam là kẻ cắp có uy tín nhất trong giới trộm cắp, kinh nghiệm “làm việc” nhiều năm đã giúp hắn phát triển được thị lực nhạy bén và khả năng phán đoán phi thường, một khi đã bị hắn nhắm tới thì không một “con mồi” nào có thể trốn thoát.

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Đinh Tiểu Cương nhận bộ đồng phục bảo vệ, mặc vào và bắt đầu làm bảo vệ. Công việc của Đinh Tiểu Cương không mấy bận rộn, chỉ có việc đi dạo quanh khu phố. Cảm thấy bồn chồn, anh quyết định kiểm tra camera an ninh để xem ai đã lấy trộm cục pin của mình. Tuy nhiên, khi vào phòng giám sát, anh phát hiện chỉ có năm màn hình hiển thị hình ảnh; những màn hình còn lại đều bị hỏng.

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Trứng gà hàng xóm

Trứng gà hàng xóm

Ở một thị trấn yên tĩnh, có ông Vương và ông Lý là hàng xóm sát vách nhau. Hai nhà chỉ có một bức tường đất thấp ngăn cách với nhau, ngày qua ngày lại, quan hệ khá thân thiết.

Thảm kịch hôn nhân

Thảm kịch hôn nhân

Rồi cô gái trẻ cười hồn nhiên, còn Della lúc đó chỉ nghĩ đó là những chuyện phù phiếm. Vì Bishop quá đẹp còn Elise quá quyến rũ, chỉ những kẻ hẹp hòi mới thêu dệt nên chuyện ngoại tình. Bà đã từng tin như thế. Nhưng giờ đây bà hối hận vì đã tiễn Jakie đi.

Để người lớn làm việc

Để người lớn làm việc

Mùa gặt lúa mì trong mắt người dân thôn Hàm Cóc chẳng khác nào một cực hình. Không khí hầm hập, bụi bặm bám đầy lỗ chân lông, người ngợm lúc nào cũng dấp dính, ngứa ngáy. Thế nhưng, giữa cái làng ấy lại có một “dị nhân” luôn mong ngóng mùa gặt như trẻ con mong mẹ đi chợ về, đó chính là ông Ngô Lùn.

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ấy luôn sáng đèn, ấm lửa những lúc chiều đông ảm đạm của miền rừng heo hút. Đó là nhà của vợ chồng thầy giáo Nam và cô Hồng, nhưng chỉ có cô dạy ở trường này, còn thầy Nam phải dạy xa hơn một chút, tận một bản sâu hơn của huyện miền núi. Cả hai thầy cô đều học cùng trường sư phạm và họ đã yêu nhau từ đó.