Anh hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về đúng năm làng lụt to, cái làng bằng lá khoai môn này mà ao hồ xòe ra như dẻ quạt. Người đuối như cơm bữa. Về tới nhà chưa kịp dỡ bỏ quân phục đã có tiếng lao xao, la lối thất thanh. Giữa cuồn cuộn, con thuyền chới với như không người lái như mách bảo điều bi kịch. Đuối! Một mớ tóc xõa lượn lờ hình dong lả lướt. Ùm ùm ùm… không biết bao nhiêu tiếng ùm cùng vang lên. Anh lao xuống sủi tăm luồn sâu nữa và đội nạn nhân lên như đội bó rong rêu. Đám ùm ùm lúc nãy đã tản ra, ai cũng nghĩ mình đã xong việc. Mở mắt ra nàng chỉ thấy anh, đôi môi mấp máy:
- Ra quân bao giờ về đúng lúc thế?
- Cả hai cùng cười. Chẳng gì cũng cùng một lũ thò lò mũi xanh với nhau một thời.
- Bơi được mà chịu à, hèn thế?
- Vừa chạm nước đã chuột rút, ngốc ạ.
- Ừ chuột rút thì chịu rồi, con chuột ấy đã bị con mèo anh vồ kịp.
- Anh tuổi mèo thật.
Ở làng này coi như anh nào vớt được nàng nào là thành vợ thành chồng. Này đôi Thảo Kính, đôi Thu Đỗ…đôi…Đám thanh niên râm ran truyền khẩu: "Nếu yêu thì chờ mùa lụt giả vờ đẩy đại nhau xuống nước khỏi mối mai hẹn hò dài dòng". Mỗi mùa lụt lại thêm vài đôi mới, lũ trai gái nghịch ngợm giả vờ đuối, ùm ùm nhảy xuống ao ướt rượt ôm nhau cấp cứu xoa bóp lồng ngực hô hấp nhân tạo, áp miệng vào hút nước. Chúng nó đóng kịch sờ nắn nhau đến thích. Lũ lụt thực sự nóng lên những cảnh nóng hơn phim Hàn phim Mỹ. Lại các trai làng thập phương bắn tin tới tấp: "Xin bái chào Úng Thịnh, các bạn cứ tự cung tự cấp thoải mái nhé. Bọn này tìm nơi chốn khác vậy. Tiếc nụ tầm xuân lắm lắm".
Lúc bấy giờ phong trào khôi phục vốn cổ đang lên cao. Làng này xã nọ nhan nhản mớ ba mớ bẩy, liền chị, liền anh phấp pha phấp phới. Trên tỉnh thành lập đoàn quan họ Quán Dốc. Cơ man nam thanh nữ tú tìm đến so giọng xin được tuyển vào để thoát cảnh hợp tác xã hai hào một công điểm. Chỉ tiêu tuyển dụng cứ nới ra, cứ linh động đến nỗi phải tách đoàn theo kiểu dân lập. Tha hồ tùy tiện đặt tên đoàn, nào là Mạn thuyền 1 đến Mạn thuyền 2… Xó xỉnh nào cũng có hoa thơm bướm lượn, người ở đừng về, ra ngó vào trông…
*
The vốn gốc người làng Úng, cô nói với chàng trai như nói với chính mình:
- Là lệ làng nhưng không phải lệ làng phải không anh? Em được tuyển vào đoàn quan họ tỉnh và anh theo nghề gò đúc nồi gia truyền thì anh cứ tiếp tục, nếu cơ duyên em chẳng từ chối.
The nhìn anh như một ân nhân đáng kính. Giờ phút chìm sâu uống no cô đã tiếp cận thủy thần hớn hở giơ tay vồ vập cô. Một thân hình tròn lẳn, áo khăn hội hè nguyên vẹn cứ thế lao xuống. The trơn nhẫy chập chờn mê man. Anh nhìn thấy vệt đen lảng vảng, chỉ còn mớ tóc là có thể bám víu thì mớ tóc lại tan loãng ra, anh luồn tay qua áo và may túm được chiếc giải áo lót vòng qua ngực là có thể dìu đỡ. Anh là ân nhân của The nhưng ân nhân với ân ái đâu có phải là một. Bảo gì anh cũng ừ hữ. Anh lững thững khoan khoan lì lì. Vật lộn với nước, quần áo dính chặt vào cơ thể The và cơ thể anh, phơi lộ hết đường cong khúc hẹp phập phồng của cô, tưởng như lúc vớt lên cô không hề mặc gì.
Mới nhập đoàn quan họ được thời gian ngắn, chị hai The đã nổi như cồn, được tặng danh hiệu giọng hát có triển vọng. Người đôi bờ sông Cầu chỉ trỏ vào cô xuýt xoa: "Đôi mắt ấy mới đích thực đôi mắt người quan họ". Có người còn nhặt được cả tờ rơi thả trôi theo dòng: "Nón thúng quai thao em thẹn thùng che mặt/ Hát đắm say cho đứt ruột gan người/ Hát như thể cuộc đời toàn nhàn hạ/ Chỉ để yêu để nhớ để thương thôi" (*).
Hai The vui đấy nhưng cũng lại buồn đấy. Sau đợt biểu diễn ngoài hải đảo về, chị lại tất tả đến thăm anh. Anh vẫn không có gì mới. Làng Dĩnh Hiệp già nửa làm nghề gò đúc nồi xoong bây giờ thu hẹp lại toen hoẻn, cạnh tranh làm sao được với các loại nồi áp suất, lò vì sóng, nồi cơm điện Thái Lan. Ai dở hơi mà còn đi mua loại cổ lỗ sĩ thời bao cấp. Người người ra khỏi làng từ lúc mặt trời chưa mọc. Anh buồn buồn giấu một tiếng thở dài trước mặt em. Em biết. Tấm lưng gù gù bên đống nồi xoong lỉnh kỉnh với tiếng chí chát lúc dồn dập lúc so đo. Anh để đầu trần, áo bảo hộ xám dày bịch, ống tay dài cài đủ khuy ở cổ tay, ngồi bên vài thợ hợp đồng áo xanh sọc đỏ, quần đen sọc vàng loạn màu.
Năm ấy nước lũ về sớm, cơn bão số một vào nhanh hơn dự báo. Anh có tin vui đến từ làng gò đúc nồi và chị có tin vui từ đoàn quan họ. Anh được tặng danh hiệu bàn tay vàng, còn chị được phong nghệ sĩ ưu tú. Làng Úng dạt vào nhiều bè gỗ quý của lâm trường đẩu đâu vỡ tanh bành, cả xác trâu, bò, gà, lợn, thậm chí có cả xác một con hổ. Làng thu thập lại được một số tiền, xây đủ năm ngôi nhà tình nghĩa. Diễn viên Hai The giờ đã có ví trí đáng nể. Làng gò đúc nhôm của anh trở thành phố thị. Khi thoáng thấy bóng chị, các lều quán trêu chọc bằng những bài hát mà chị hát thành công trên truyền hình. Có ai đó biết chuyện trai gái làng Úng còn thóc mách: "Nàng tiên được vớt từ nước lên đấy!".
Anh chỉ trả lời mà chẳng hỏi được câu gì cho ra hồn. Người vớt em khỏi đuối ngày nào, người giật em ra khỏi tay tử thần ngồi khô như sắt vụn. Ông bố anh lúi húi gò lưng không biết cao hay lùn, khẩu trang to bằng chiếc quạt thả những tia thăm dò về phía khách. Ra về, chị chào ông và nhận lại một lời gió bay:
- Lương của "người ơi" có bằng tiền của ba chiếc ấm nhôm sứt vòi không nhảy? Kém à?
Nói rồi ông cười sùng sục qua khẩu trang chẳng nhìn rõ mặt ngang mũi dọc. Mấy anh thợ hợp đồng thì cười sin sít dứt cả khẩu trang ra mới đủ không khí để cười: "Rằng chỉ được bảnh bao vài phút hoa thơm bướm lượn thôi, hạ phông màn xuống thì bao hết bảnh… quan họ nghỉ chúng em ra về".
Về đến nhà hát, đèn thành phố vừa lên, The được tin sếp Ngôn Hạnh sang làm Phó ban Tuyên giáo tỉnh, ông Quách Mạt về thay trưởng đoàn quan họ. Bà Ngôn Hạnh vốn là cán bộ chính trị, suốt thời gian làm trưởng đoàn bà bị giới chuyên môn gọi là "bầy rối nước" là "con sít lội sông đi tìm". Bà chế biến quan họ thành mì ăn liền, thành bình cũ rượu mới. Buồn cười nhất là đưa được cả luật thuế VAT vào bài "Dọn quán bán hàng", đưa chống lâm tặc rồi môi trường vào bài "Trên rừng 36 thứ chim". Lúc bấy giờ ông Quách Mạt còn bên Tạp chí Sông Cầu, ông này chuyên châm chọc tiếu lâm độc ác bên lề các cuộc họp, vô hình thành phe này phái nọ. Bà Ngôn Hạnh tức tiết mà chỉ ngậm bồ hòn làm ngọt. Phen này với cương vị Phó ban Tuyên giáo, bà sẽ di chết để hắn sang làm trưởng đoàn quan họ bà mới đi. Nhận quyết định ngày mùng 4 thì ngày 7 lễ mễ túi quà, Quách Mạt khúm núm sang nhà riêng đúng lúc bà đi vắng. Hắn tế chống bà như tế sao khiến hàng xóm tưởng rằng Quách Mạt có quan hệ nhăng nhít bất chính đang tạ tội với ông chồng mọc sừng vừa nhận lậy vừa ngơ ngơ ngác ngác.
Trừ những hôm đi công tác hoặc ra ngoài, lúc nào trong khu nội trú Quách Mạt cũng khăn đóng áo the quần trắng điệu đà hệt một diễn viên có nghề. Cười tủm tỉm khi được gọi là anh hai Quách. Có thể ông ta muốn làm người nổi tiếng. Các liền anh khen ông say mê chuyên môn, còn các liền chị thì thầm nhau ông ta hấp tỉ độ.
Không biết để tâng công với chức vụ mới hay vì thật sự sợ bà Ngôn Hạnh di chết mà Quách Mạt vận động với xã Tân Quang được một hợp đồng biểu diễn béo bở. Chẳng là Tân Quang mở hội làng cùng với đón nhận huân chương mà. Vị đứng đầu xã mặt đỏ phừng phừng, miệng nhai tay rót trong bữa chiêu đãi đã tuyên bố với dân trong xã rằng: "Hội này ta chơi hết mình".
Năm thuyền quan họ như gấm như hoa trang điểm mặt nước. Tả hữu sông Cầu thuộc địa phận xã Tân Quang người chen người, trò chen trò xô đẩy nhau giữa rừng cờ xí loa đài. Chị Hai The ngồi thuyền thứ hai bị đám quay phim chụp ảnh hành đủ kiểu. Nào là: "Khăn mỏ quạ sửa lại cho đúng mỏ quạ". Nào là: "Cái yếm, cái nón nghiêng bên này lệch bên kia".
Trời trở chứng đến là nhanh, bỗng đâu mây đen ập đến, sấm sét đùng đoàng đổ kín một vùng. Cơn lốc chứ không phải cơn mưa. Mạnh ai nấy thoát. Vướng khăn vướng áo không thể nhanh hơn được, con thuyền xoay như điên, tiếng kêu cứu to hơn tiếng trống hội. Các anh hai, chị hai ướt như chuột lột, bác lái đò trốn biệt đi đâu. Kiểm lại thấy thiếu Thúy Dâu: "Thúy Dâu ngồi ở thuyền nào?". "Thuyền Hai The chứ thuyền nào?". "Thôi hỏng rồi!". Hai The không kịp gọi ai, một thân một mình lao thẳng ra giữa dòng cuộn xoáy. Con gái làng Úng cậy bơi giỏi. Người đuối vớ được vật gì là nắm chặt theo bản năng. Hai The bị túm tó ôm ghì không cựa được. Hai tấm thân ngọc ngà dính dớp xoắn vặn vào nhau, gỡ tay chân xong lại gỡ áo khăn, gỡ tóc đuôi gà. Ngạt nước quá lâu mi mắt chưa kịp khép, đôi môi như còn muốn trăng trối. Họ nằm song song nhau hệt như hai câu quan họ buồn.
Thủy thần dù có say quan họ như điếu đổ, dù có tham lam nhan sắc gái Kinh Bắc đến đâu thì cũng chỉ bắt được Thúy Dâu. Thần đã để sổng mất cô gái làng Úng. Sông nước với họ là quá dạn dĩ, kinh nghiệm, tỏ tường, có thể lặn tới mọi đáy sâu, có thể nhịn thở trong nước, có thể bơi sải, bơi chó, bơi ếch kiểu nào cũng không ngán. Anh đã vớt cô lên một lần và lần này chính cô vừa vớt bạn vừa tự vớt mình. Thúy Dâu được khâm liệm bằng chính bộ đồ biểu diễn của cô. Từ trong trứng nước cô đã sống theo lề lối quan họ và nay ra đi vẫn theo lề lối ấy. Trong điếu văn, giữa tiếng khóc, tiếng tiếc thương, ông Quách Mạt còn gắng cất lên được một câu quan họ mà Thúy Dâu hằng yêu thích. Sau đám tang, ông được đánh giá cao hơn các vị tiền nhiệm. Bà Ngôn Hạnh cũng đã quên chuyện cũ. Hai nhà thơ đang theo đuổi Thúy Dâu mặt non choẹt, một ria mép, một râu dê nài nỉ đòi đọc thơ trước mộ nhưng bị ông chủ lễ lườm nguýt cấm.
Giữa phút hồi sinh khó khăn của Hai The, bỗng đến kịp một chàng trai áo quần xộc xệch. Mặt tái mét, chàng trai ngồi thụp xuống lún cát: "Có bao nhiêu tiếng ùm ùm ở làng Úng hôm vớt em. Mỗi tiếng ùm là một chàng trai, anh là một tiếng trong nhiều tiếng ùm ấy". Trong lòng bàn tay phải của anh có vật gì nho nhỏ giống như một vẩy ốc lấp lánh. Anh rụt rè như sợ ai nhìn thấy: "Trong lúc luồn vào áo lót của em để dìu lên, chiếc cúc áo đã bám vào kẽ ngón tay nằm lại trong lòng tay anh từ ngày hôm ấy. Anh không phải sinh năm Mão. Anh là anh đây cơ mà". Hai The đã đủ sức ngước mắt lên nhìn anh, nhận lại một diện mạo quen quen lạ lạ. Cô ù tai chóng mặt. Quầng sáng tròn vo như được phóng đại dần lên vành vạnh, chòng chành, lơ lửng hệt chiếc nón quai thao khổng lồ và khuôn mặt anh đã được lồng vào quầng sáng quai thao ấy.
**********
(*) Thơ Vũ Đình Minh