Bất thường vì gã, với nét tài hoa trời phú, luôn có những sáng kiến chẳng giống ai trong thế giới nghệ thuật đương đại đa chiều khi thực hiện các tác phẩm nghệ thuật thị giác, performance art, installation art như: “Tôi là cột điện”, “Đồng Cu”, “Nhu cầu”, “Wc. Doc”, “Loanh quanh”, “Dập”… Có khi gã được ngợi ca vì sự mới lạ, có khi gã lại bị “ném đá” một cách không thương tiếc bởi những khán giả, độc giả khó tính. Nhưng cái hay của gã là biết bình tâm và nín lặng trước dư luận, cứ thế âm thầm làm việc bên bàn giấy biên tập của ấn phẩm Tiền phong Chủ nhật và đơn độc lãng du trong thế giới của thi ca đầy khát khao nhục cảm của gã. Để một ngày gã lại gom góp cho ra đời một ấn phẩm thơ đương đại - hậu hiện đại được viết bằng tiếng Kinh, rồi tổ chức dịch ra nhiều thứ ngôn ngữ của dân tộc ít người như Khmer, K’Ho, Lô Lô, và chữ Nôm cùng các bản thư pháp chữ Nôm với cái tên nghe là lạ: “Mảnh mảnh mảnh”.
Mảnh mảnh mảnh là mạch thở xúc cảm của lối thơ hiện đại - hậu hiện đại. Một cách giãi bày rất riêng khoảnh khắc vụt hiện của cảm xúc. Trong đó, đầy tràn trong từng câu chữ là một cái tôi đầy nhục cảm, đầy khát khao bản thể về một thế giới sống của tình yêu, của ký ức, của nỗi cô đơn và của khát khao đàn ông đàn bà, của những tự vấn.
Lê Anh Hoài viết: “Một giấc mơ vườn cây giữa sa mạc của những con đường nhựa/ một giấc mơ nụ hôn giữa tiếng/ rú gầm của những động cơ/ người lạc nhau trong một rừng quan hệ/ những quan hệ nhiều như những chỉ tay/ những quan hệ nhiều như những nếp nhăn trên mặt/ những mặt người lỳ như card visit/ chúng mình bơi tìm nhau giữa biển nhu cầu/ ta phải gạt nhu cầu ra để tiến lên/ trong nước ta phải phun phì phì nhu cầu ra không thì chết ngạt/ trên bờ, những nhu cầu dồn nêm như người trên xe buýt dồn nêm trước đèn đỏ nghẹn ngào/ tôi - em bội thực nhau những nhu cầu vẫn đổi thay như kim đồng hồ lắc rắc”... (Nhu cầu).
Nói về sự ra đời của tập thơ thứ hai được in sau hơn mười ba năm tính từ tập thơ đầu tay và mất tới mười lăm tháng chuẩn bị, với giá tiền lên tới ngót nghét dăm chục triệu đồng trong thời buổi kinh tế khó khăn này, Lê Anh Hoài diễn giải một cách đầy chữ nghĩa rằng, anh muốn tôn vinh nghệ thuật ngôn từ nói riêng và ngôn ngữ nói chung. Bởi vì trong tâm niệm, anh luôn khẳng định mỗi ngôn ngữ là một thế giới, trong đó, từng thứ trong vạn vật và muôn loài hiện ra với những dạng thể không hề giống chính nó tại thế - giới - ngôn - ngữ khác. Dĩ nhiên, với điều kiện trong ngôn ngữ ấy, nó có được một vị trí. Và khi ngôn ngữ, có được một cách ghi với con chữ trên một bề mặt (giấy, da thuộc, lá, tre nứa, đá, gỗ, đồ gốm, kim loại, da thịt, màn hình điện thoại - máy tính…), bằng mọi công cụ (bút - mực, đục, a xít, kim xăm, máy in, bàn phím…), nó tiếp tục sống một đời sống khác. Và con người, với hằng hà sa số những hành động, trạng thái tâm lý và tinh thần, cũng hiển hiện ra trong từng ngôn ngữ, như vẫn giống mà thực khác biệt. Chính vì hình dung ấy, Lê Anh Hoài mong muốn thơ mình - vốn được viết bằng tiếng mẹ đẻ, tiếng người Kinh - được sống trong những thế - giới - ngôn - ngữ khác dù đó là ngôn ngữ của dân tộc ít người như Khmer, K’Ho, Lô Lô.
Nói cho cùng, điều này, trước Lê Anh Hoài, có nhiều người đã thực hiện. Thơ họ được in bằng nhiều thứ ngôn ngữ trên thế giới để được vươn xa hơn ra ngoài lãnh thổ Việt
Để hoàn thành tập thơ này một cách suôn sẻ và trọn vẹn, Lê Anh Hoài đã bỏ nhiều công sức trong quá trình đi tìm các dịch giả, là các chuyên gia chữ Nôm, tiếng Khmer, K’Ho, Lô Lô. Anh kể: “Font chữ trong một số trường hợp không chuẩn lắm nên chuyển qua chuyển lại qua Internet bị sai hết. Rút cục tôi phải nhờ gửi bản cứng ra, rồi dò từng chữ một. Nhưng tôi rất vui khi biết nhà thơ Thạch Đờ Ni (anh đang ở Bạc Liêu) đã công phu chuyển thơ tôi từ thơ tự do thành các thể thơ truyền thống của người Khmer. Rồi bản dịch tiếng K’ Ho do nhạc sĩ, nhà thơ K’Thế đảm nhiệm (anh đang ở Tây Nguyên), khi xong đã được già làng “ấn chứng” - theo đúng luật tục của người K’ Ho. Cũng dịch giả K’Thế đã giúp tôi tổ chức một cuộc trình tấu theo phong tục dân tộc của anh tất cả các bài thơ trong tập bằng tiếng K’Ho, cuộc trình tấu do các nghệ nhân dân tộc đảm nhiệm, với trang phục, không gian theo truyền thống. Với tôi, những tình cảm ấy của anh em thật sự là những kỷ niệm không thể nào quên. Dù nói thật là bây giờ nhìn lại, tôi thấy mình quả thật đã rất… liều với sự công phu hơn một năm trời này!”.
Nếu trước đây, nhiều người cho rằng, thơ ca thường là thứ đọc để cảm, để lắng sâu vào một thế giới riêng của từng con chữ, thì Lê Anh Hoài mang tới một sự hiếu kỳ vì một “hỗn hợp chữ” nằm bên ngoài thơ ca. Trong ý nghĩ của tôi, Lê Anh Hoài không phải là một người quá coi trọng tiêu chí của một tập thơ. Những tiêu chí anh nói trên có lẽ nó được ra đời sau khi anh hoàn tất ý tưởng cho 16 bài thơ ít ỏi nhưng khi in ra thì dày tới 170 trang khổ giấy nhập ngoại 125 x 260 với cấu trúc đa chiều, được trình bày hiện đại và lạ mắt. Nó lạ và độc vì được nhào nặn bởi một người tay ngang đi vào thơ ca như một ngả rẽ bất ngờ của số phận, ưa sự sáng tạo nổi trội và không muốn lẫn vào số đông của thị hiếu. Để ít ra, như anh chia sẻ, khi xuất bản thơ thời bão giá như một cái chợ ế ẩm, thì thơ của anh cũng sẽ lưu lại được trên giá sách của những người yêu sách vì một lý do nào đó thực sự có ý nghĩa.
Còn nhớ cách đây không lâu, Lê Anh Hoài từng là một trong những người trình diễn gây… sửng sốt đối với khán giả khi anh đang thuyết trình về ý tưởng tác phẩm Wc.com được trưng bày tại một triển lãm về nghệ thuật đương đại, bèn… tụt quần chạy vào ngồi toilet (bên trong cái Wc) để… đọc sách. Một cái toilet anh đã cất công đi xin được từ thùng rác của một gia đình. Sự kiện đó khiến cho không ít người “choáng váng” cho rằng, làm nghệ thuật nghĩa là phải chấp nhận mình… điên hơn kẻ khác. “Điên” và dám bay bổng với những ý tưởng không kém phần… rồ dại của mình.
Lê Anh Hoài tâm niệm rằng, nghệ thuật là phải đổi mới, là phải khác những người khác thì mới mang được dấu ấn cá nhân của riêng mình. Đôi khi anh không muốn người ngoài nhìn anh khác lạ ở cách ăn mặc những quần áo xanh đỏ diêm dúa, te tua; không phải khác ở cách anh xâu khuyên tai hay xăm vài hình ngôi sao xinh xắn ở tay… mà anh muốn bạn bè, độc giả nhìn nhận anh ở nhu cầu muốn tạo nên một sự khác biệt sự sáng tạo ngôn từ của riêng anh, như là cách góp phần làm chút gợn sóng trong đời sống văn học nghệ thuật vốn dĩ êm đềm, phẳng lặng.
Lê Anh Hoài đằng sau rất nhiều sự gây “sốc”, được coi là người tỉnh táo, khá dễ tính, luôn biết làm trẻ hóa mình dù anh không còn trẻ. Mặc dù đọc thơ anh, tôi nhận ra rằng, đằng sau những tô điểm màu mè anh dành cho thơ là đầy tràn một nỗi trống trải, cô đơn của một người luôn khát khao đạt tới sự hoàn mỹ trong nhiều tầng bậc của cảm xúc. Ngay cả lúc anh chỉ có một khát khao cháy bỏng là được làm một con chuồn chuồn để được tự do bay bổng, không phải kiếm ăn để tìm của để dành, không phải miệt mài xây tổ, vì có thể ngủ đậu trên một nhành cây ngoài sương gió.
Anh là một gã đàn ông tóc bắt đầu nhuốm màu sương khói thời gian nhưng vẫn hăng say trên con đường kiếm tìm những mê cung nghệ thuật, để thỉnh thoảng khi đôi chân mỏi mệt lại hát nghêu ngao một bài hát đẫm nước mắt có tên là Khóc: “Người đàn ông lạnh lùng/ đang khóc/ người đàn bà cuống quýt/ chăm sóc anh ta bằng tình yêu của giống cái/ không hiểu nước mắt đàn ông/ Người đàn ông lạnh lùng/ đã khóc vì phải đóng vai người đàn ông quá lâu/ những gánh nặng đè đầu/ những bậc thang hối thúc/ những đồng tiền khốn kiếp/ và những người đàn bà/ vừa quyến rũ vừa đòi chung thuỷ/ Người đàn ông khóc vì cuộc đời quá ngắn mà khao khát quá dài/ vì đời là những lối mòn/ dẫn đến những mê cung”…