Lê Anh Hoài: Gã văn nhân… bất thường

Trong hình dung của tôi, Lê Anh Hoài là một gã văn nhân đầy… bất thường. Sự bất thường ấy nhìn thấy ngay từ ngoại hình bụi phủi kiểu “mớ ba mớ bảy loẻng xoẻng” đủ các thứ gã khoác lên người. Bất thường vì mái tóc dài được tết theo kiểu trẻ con với những chiếc dây chun xanh đỏ do chính bàn tay cô con gái rượu của gã… sáng tạo.

Bất thường vì gã, với nét tài hoa trời phú, luôn có những sáng kiến chẳng giống ai trong thế giới nghệ thuật đương đại đa chiều khi thực hiện các tác phẩm nghệ thuật thị giác, performance art, installation art như: “Tôi là cột điện”, “Đồng Cu”, “Nhu cầu”, “Wc. Doc”, “Loanh quanh”, “Dập”… Có khi gã được ngợi ca vì sự mới lạ, có khi gã lại bị “ném đá” một cách không thương tiếc bởi những khán giả, độc giả khó tính. Nhưng cái hay của gã là biết bình tâm và nín lặng trước dư luận, cứ thế âm thầm làm việc bên bàn giấy biên tập của ấn phẩm Tiền phong Chủ nhật và đơn độc lãng du trong thế giới của thi ca đầy khát khao nhục cảm của gã. Để một ngày gã lại gom góp cho ra đời một ấn phẩm thơ đương đại - hậu hiện đại được viết bằng tiếng Kinh, rồi tổ chức dịch ra nhiều thứ ngôn ngữ của dân tộc ít người như Khmer, K’Ho, Lô Lô, và chữ Nôm cùng các bản thư pháp chữ Nôm với cái tên nghe là lạ: “Mảnh mảnh mảnh”.

Mảnh mảnh mảnh là mạch thở xúc cảm của lối thơ hiện đại - hậu hiện đại. Một cách giãi bày rất riêng khoảnh khắc vụt hiện của cảm xúc. Trong đó, đầy tràn trong từng câu chữ là một cái tôi đầy nhục cảm, đầy khát khao bản thể về một thế giới sống của tình yêu, của ký ức, của nỗi cô đơn và của khát khao đàn ông đàn bà, của những tự vấn.

Lê Anh Hoài viết: “Một giấc mơ vườn cây giữa sa mạc của những con đường nhựa/ một giấc mơ nụ hôn giữa tiếng/ rú gầm của những động cơ/ người lạc nhau trong một rừng quan hệ/ những quan hệ nhiều như những chỉ tay/ những quan hệ nhiều như những nếp nhăn trên mặt/ những mặt người lỳ như card visit/ chúng mình bơi tìm nhau giữa biển nhu cầu/ ta phải gạt nhu cầu ra để tiến lên/ trong nước ta phải phun phì phì nhu cầu ra không thì chết ngạt/ trên bờ, những nhu cầu dồn nêm như người trên xe buýt dồn nêm trước đèn đỏ nghẹn ngào/ tôi - em bội thực nhau những nhu cầu vẫn đổi thay như kim đồng hồ lắc rắc”... (Nhu cầu).

Nói về sự ra đời của tập thơ thứ hai được in sau hơn mười ba năm tính từ tập thơ đầu tay và mất tới mười lăm tháng chuẩn bị, với giá tiền lên tới ngót nghét dăm chục triệu đồng trong thời buổi kinh tế khó khăn này, Lê Anh Hoài diễn giải một cách đầy chữ nghĩa rằng, anh muốn tôn vinh nghệ thuật ngôn từ nói riêng và ngôn ngữ nói chung. Bởi vì trong tâm niệm, anh luôn khẳng định mỗi ngôn ngữ là một thế giới, trong đó, từng thứ trong vạn vật và muôn loài hiện ra với những dạng thể không hề giống chính nó tại thế - giới - ngôn - ngữ khác. Dĩ nhiên, với điều kiện trong ngôn ngữ ấy, nó có được một vị trí. Và khi ngôn ngữ, có được một cách ghi với con chữ trên một bề mặt (giấy, da thuộc, lá, tre nứa, đá, gỗ, đồ gốm, kim loại, da thịt, màn hình điện thoại - máy tính…), bằng mọi công cụ (bút - mực, đục, a xít, kim xăm, máy in, bàn phím…), nó tiếp tục sống một đời sống khác. Và con người, với hằng hà sa số những hành động, trạng thái tâm lý và tinh thần, cũng hiển hiện ra trong từng ngôn ngữ, như vẫn giống mà thực khác biệt. Chính vì hình dung ấy, Lê Anh Hoài mong muốn thơ mình - vốn được viết bằng tiếng mẹ đẻ, tiếng người Kinh - được sống trong những thế - giới - ngôn - ngữ khác dù đó là ngôn ngữ của dân tộc ít người như Khmer, K’Ho, Lô Lô.

Nói cho cùng, điều này, trước Lê Anh Hoài, có nhiều người đã thực hiện. Thơ họ được in bằng nhiều thứ ngôn ngữ trên thế giới để được vươn xa hơn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam . Cái khác của Lê Anh Hoài, chính là anh đã chọn tiếng dân tộc thiểu số, vốn là thứ ngôn ngữ của cộng đồng nhỏ, đang yếm thế, thậm chí đang có nguy cơ biến mất, để quảng bá thơ của mình. “Cũng đã có nhiều người hỏi tôi - Lê Anh Hoài chia sẻ - Sao lại là chữ Nôm, một hệ thống ký hiệu mà hiện nay, theo một nguồn thông tin - trên thế giới chưa có đến 100 người đọc được? Cùng một kiểu nhưng diễn đạt khác; là: Sao lại không phải là tiếng Anh (ước tính, hiện có khoảng một tỷ người nói); tiếng Hoa (hơn 1 tỷ người nói, thậm chí vượt qua tiếng Anh về mức độ phổ biến); tiếng Hindu (gần nửa tỷ người nói) tiếng Tây Ban Nha, tiếng  Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Nga (đều có số lượng người sử dụng rất đáng nể)? Câu trả lời của tôi là: Mọi thứ ngôn ngữ vốn đều bình đẳng. Vậy tại sao không tìm đến những cộng đồng ở gần mình nhất? Hơn nữa, tại sao phải góp thêm một ngọn gió cho cơn bão xuất phát từ những cộng đồng lớn, đang hàng ngày hàng giờ tàn phá, đè bẹp những cộng đồng nhỏ - không loại trừ các vấn đề về văn hóa và ngôn ngữ? Điều đáng báo động trong trào lưu chung của lớp trẻ là họ ít coi trọng ngôn ngữ và văn hóa của chính dân tộc mình. Với việc xuất bản tập thơ đa ngữ này, tôi muốn thực hiện một hành động nhỏ nhoi, nhưng qua đó hy vọng làm thức tỉnh ý thức bảo vệ giữ gìn văn hóa dân tộc, văn hóa bản địa của cộng đồng. Thông qua hành vi có phần đi ngược lại với trào lưu chung, tôi muốn đưa tới một phản đề, qua đó chuyển tải ý niệm khiến người xem có một cảm thức về (mặt trái) của quá trình toàn cầu hóa”.

Để hoàn thành tập thơ này một cách suôn sẻ và trọn vẹn, Lê Anh Hoài đã bỏ nhiều công sức trong quá trình đi tìm các dịch giả, là các chuyên gia chữ Nôm, tiếng Khmer, K’Ho, Lô Lô. Anh kể: “Font chữ trong một số trường hợp không chuẩn lắm nên chuyển qua chuyển lại qua Internet bị sai hết. Rút cục tôi phải nhờ gửi bản cứng ra, rồi dò từng chữ một. Nhưng tôi rất vui khi biết nhà thơ Thạch Đờ Ni (anh đang ở Bạc Liêu) đã công phu chuyển thơ tôi từ thơ tự do thành các thể thơ truyền thống của người Khmer. Rồi bản dịch tiếng K’ Ho do nhạc sĩ, nhà thơ K’Thế đảm nhiệm (anh đang ở Tây Nguyên), khi xong đã được già làng “ấn chứng” - theo đúng luật tục của người K’ Ho. Cũng dịch giả K’Thế đã giúp tôi tổ chức một cuộc trình tấu theo phong tục dân tộc của anh tất cả các bài thơ trong tập bằng tiếng K’Ho, cuộc trình tấu do các nghệ nhân dân tộc đảm nhiệm, với trang phục, không gian theo truyền thống. Với tôi, những tình cảm ấy của anh em thật sự là những kỷ niệm không thể nào quên. Dù nói thật là bây giờ nhìn lại, tôi thấy mình quả thật đã rất… liều với sự công phu hơn một năm trời này!”.

Nếu trước đây, nhiều người cho rằng, thơ ca thường là thứ đọc để cảm, để lắng sâu vào một thế giới riêng của từng con chữ, thì Lê Anh Hoài mang tới một sự hiếu kỳ vì một “hỗn hợp chữ” nằm bên ngoài thơ ca. Trong ý nghĩ của tôi, Lê Anh Hoài không phải là một người quá coi trọng tiêu chí của một tập thơ. Những tiêu chí anh nói trên có lẽ nó được ra đời sau khi anh hoàn tất ý tưởng cho 16 bài thơ ít ỏi nhưng khi in ra thì dày tới 170 trang khổ giấy nhập ngoại 125 x 260 với cấu trúc đa chiều, được trình bày hiện đại và lạ mắt. Nó lạ và độc vì được nhào nặn bởi một người tay ngang đi vào thơ ca như một ngả rẽ bất ngờ của số phận, ưa sự sáng tạo nổi trội và không muốn lẫn vào số đông của thị hiếu. Để ít ra, như anh chia sẻ, khi xuất bản thơ thời bão giá như một cái chợ ế ẩm, thì thơ của anh cũng sẽ lưu lại được trên giá sách của những người yêu sách vì một lý do nào đó thực sự có ý nghĩa.

Còn nhớ cách đây không lâu, Lê Anh Hoài từng là một trong những người trình diễn gây… sửng sốt đối với khán giả khi anh đang thuyết trình về ý tưởng tác phẩm Wc.com được trưng bày tại một triển lãm về nghệ thuật đương đại, bèn… tụt quần chạy vào ngồi toilet (bên trong cái Wc) để… đọc sách. Một cái toilet anh đã cất công đi xin được từ thùng rác của một gia đình. Sự kiện đó khiến cho không ít người “choáng váng” cho rằng, làm nghệ thuật nghĩa là phải chấp nhận mình… điên hơn kẻ khác. “Điên” và dám bay bổng với những ý tưởng không kém phần… rồ dại của mình.

Lê Anh Hoài tâm niệm rằng, nghệ thuật là phải đổi mới, là phải khác những người khác thì mới mang được dấu ấn cá nhân của riêng mình. Đôi khi anh không muốn người ngoài nhìn anh khác lạ ở cách ăn mặc những quần áo xanh đỏ diêm dúa, te tua; không phải khác ở cách anh xâu khuyên tai hay xăm vài hình ngôi sao xinh xắn ở tay… mà anh muốn bạn bè, độc giả nhìn nhận anh ở nhu cầu muốn tạo nên một sự khác biệt sự sáng tạo ngôn từ của riêng anh, như là cách góp phần làm chút gợn sóng trong đời sống văn học nghệ thuật vốn dĩ êm đềm, phẳng lặng.

Lê Anh Hoài đằng sau rất nhiều sự gây “sốc”, được coi là người tỉnh táo, khá dễ tính, luôn biết làm trẻ hóa mình dù anh không còn trẻ. Mặc dù đọc thơ anh, tôi nhận ra rằng, đằng sau những tô điểm màu mè anh dành cho thơ là đầy tràn một nỗi trống trải, cô đơn của một người luôn khát khao đạt tới sự hoàn mỹ trong nhiều tầng bậc của cảm xúc. Ngay cả lúc anh chỉ có một khát khao cháy bỏng là được làm một con chuồn chuồn để được tự do bay bổng, không phải kiếm ăn để tìm của để dành, không phải miệt mài xây tổ, vì có thể ngủ đậu trên một nhành cây ngoài sương gió.

Anh là một gã đàn ông tóc bắt đầu nhuốm màu sương khói thời gian nhưng vẫn hăng say trên con đường kiếm tìm những mê cung nghệ thuật, để thỉnh thoảng khi đôi chân mỏi mệt lại hát nghêu ngao một bài hát đẫm nước mắt có tên là Khóc: “Người đàn ông lạnh lùng/ đang khóc/ người đàn bà cuống quýt/ chăm sóc anh ta bằng tình yêu của giống cái/ không hiểu nước mắt đàn ông/ Người đàn ông lạnh lùng/ đã khóc vì phải đóng vai người đàn ông quá lâu/ những gánh nặng đè đầu/ những bậc thang hối thúc/ những đồng tiền khốn kiếp/ và những người đàn bà/ vừa quyến rũ vừa đòi chung thuỷ/ Người đàn ông khóc vì cuộc đời quá ngắn mà khao khát quá dài/ vì đời là những lối mòn/ dẫn đến những mê cung”…

Trần Hoàng Thiên Kim

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.