Trí thức Việt Nam, một lát cắt theo dòng lịch sử

Kỳ 2: GS.TS Trần Ngọc Vương: Hai gương mặt của trí thức nho giáo

Nhìn ở góc độ chính trị xã hội, nếu câu chuyện lớn nhất của đội ngũ trí thức Phật giáo Việt Nam là câu chuyện nhập thế - điều mà ANTG đã đối thoại với GS.TS Đỗ Quang Hưng ở kỳ 1 thì với đội ngũ trí thức Nho giáo, có vẻ câu chuyện lớn nhất lại là hành đạo.

Những nhà Nho hành đạo trong mấy ngàn năm lịch sử mang trong mình 2 khuôn mặt lớn, cả trung quân lẫn ngu quân. GS.TS Trần Ngọc Vương, nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng phương Đông sẽ phân tích rõ 2 khuôn mặt này cùng những ảnh hưởng bền chặt của nó đến ngay cả đội ngũ trí thức hôm nay.

- Nhà báo Phan Đăng: Thưa GS.TS Trần Ngọc Vương, thật ra thì vẫn còn rất nhiều tranh luận khác nhau quanh việc có phải Thái thú Sĩ Nhiếp là người đầu tiên mang chữ Nho vào đất Giao Chỉ, đặt viên gạch đầu tiên cho nền văn hiến Đại Việt sau này hay không, thôi thì chúng ta không sa đà vào những tranh cãi không biết bao giờ mới kết thúc ấy. Điều tôi muốn nói ở đây là có phải đến thời Sĩ Nhiếp thì đội ngũ trí thức Nho học mới thực sự hình thành ở dải đất này hay không?

- GS.TS Trần Ngọc Vương: Mọi nguồn tư liệu đều không thể giúp chúng ta trả lời chắc chắn 100% một câu hỏi như thế, nhưng theo nghiên cứu của tôi thì chữ Hán vào Việt Nam từ thời Triệu Đà chứ không phải thời Sĩ Nhiếp. 

Người ta chứng minh được rằng Triệu Đà đã sử dụng văn tự để giao tiếp với Lục Giả, xứ thần của nhà Hán. Và chúng ta phải thấy rằng, khi Triệu Đà đến đây làm vua thì có lẽ ông ta phải sử dụng một đội ngũ trí thức bản địa để cai trị và xây dựng nền văn hóa cho đất nước này.  

- Nhưng ở những thời kỳ lịch sử đầu tiên ấy, chữ Hán mà Triệu Đà mang đến là chữ viết của kẻ xâm lược nên có lẽ nó không được dân chúng bản địa chấp thuận ngay và vì thế, đội ngũ trí thức bản địa mà ông nói - nếu thực sự đã xuất hiện, chắc cũng chưa phát triển?

- Tôi đã lập luận một cách nghiêm chỉnh và hiện nay cũng nhiều người đồng ý với tôi, trong đó có giáo sư Nguyễn Khắc Phi, rằng, phải coi Triệu Đà như một thời kỳ lịch sử của Việt Nam. 

Theo tôi, nguồn gốc xuất thân của Triệu Đà là Hán hay Việt không quan trọng, bởi việc người nước này sang làm vua một nước khác rồi mở ra một triều đại mới ở nước khác là chuyện thường thấy trong lịch sử thế giới. Yếu tố đáng bàn là ông vua ấy có tạo ra những giá trị hoặc những cách thức ứng xử mang tính đại diện cho một quốc gia hay không? 

Dựa trên công thức ứng xử là "Nội đế ngoại vương", tức là bên trong xưng đế - bên ngoài xưng vương mà Triệu Đà xác lập, tôi thấy Triệu Đà đã giải quyết rất tốt yếu tố thứ hai này. Công thức ứng xử chính trị ấy không phải là một sự lừa dối mà chính là cách ngoại giao khôn ngoan để vừa khẳng định quyền thế của mình (bên trong xưng đế) vừa tránh khỏi chiến tranh với các nước lớn hơn mình (bên ngoài xưng vương). 

Và thực tế là công thức ấy đã được lần lượt các triều đại quân chủ chuyên chế Việt Nam áp dụng trong mấy nghìn năm sau này, để có thể giữ vững nền tự chủ.

- Nhưng, chúng ta không thể phủ nhận được rằng, ở những thời kỳ tự chủ đầu tiên như Đinh, Lê thì trí thức Phật giáo phát huy tối đa vai trò của mình. Phải đến thời Lý, khi một nhà nước trung ương tập quyền ra đời, khi Khổng Tử được thờ phụng ở Văn Miếu thì sức ảnh hưởng của Nho học mới dần rõ nét. Và có lẽ phải đến nửa cuối thời Trần thì những trí thức Nho học mới thực sự bước lên vũ đài chính trị của dân tộc? 

- Giữa thời Trần - cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, từng bước một, Nho giáo đã thay chỗ cho Phật giáo rồi. Vì thứ nhất, con đường học hành, thi cử, ra làm quan mà triều đình áp dụng về bản chất không phải con đường Phật giáo, mà là con đường Nho giáo. Thứ hai, phải luôn hiểu rằng, Phật giáo là một học thuyết nhập thế có điều kiện. 

Mục đích tối cao của học thuyết đó là giải thoát, cho nên các phương tiện nhập thế cũng chỉ là các bước quá độ để tiến tới sự giải thoát. Nói một cách sòng phẳng, Phật giáo không phù hợp với những chế độ chuyên chế.

Bản chất của chế độ chuyên chế là xây dựng một nhà nước đại thống nhất, đại tập trung trên cơ sở đoàn kết mọi lực lượng. Khi tôn chỉ đoàn kết được triển khai và duy trì trong thực tế mà chưa gặp phải những cạm bẫy của thực tế thì Phật giáo đồng hành. 

Nhưng khi chế độ nảy sinh những vấn đề trong lòng nó thì Phật giáo không thể đồng hành được nữa. Đỉnh cao của câu chuyện Phật giáo ở ta là việc vua Trần bỏ ngai vàng đi tu. Tư tưởng ấy là rất Phật.

Nhưng ở góc độ xã hội, người ta có thể sẽ đặt ra câu hỏi: ông làm vua mà còn chán ngôi vua thì tại sao tôi phải phụng sự ông? Trong khi đó, ngược lại, Nho giáo đề cao một chiều về lòng trung thành với ngôi vua.

- Nếu thời Trần là giai đoạn chuyển từ Phật sang Nho thì có vẻ đến thời Lê, trí thức Nho giáo phát sáng nhất, và đến thời Nguyễn - triều đại quân chủ chuyên chế cuối cùng trên đất nước ta thì trí thức Nho giáo lại xuất hiện những nét rất mới - điều mà thời Lê chưa có được?

- Thời cực thịnh của Nho giáo ở Việt Nam vào khoảng sau thế kỷ XV thời vua Lê Thánh Tông. Từ thế kỷ XVIII trở đi là thời kỳ khủng hoảng của chế độ và đến thời Nguyễn, đặc biệt là thời 4 ông vua đầu tiên thì Nho giáo được bổ sung những yếu tố mà giai đoạn trước không có. 

Thời kỳ này hình thành chân dung của những nhà Nho tài tử kiểu như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát nhưng cũng là thời mà những quy phạm của Nho giáo được đòi hỏi và xã hội hóa chi tiết nhất!

- Đội ngũ trí thức Nho giáo Việt Nam chắc chắn chịu ảnh hưởng từ đội ngũ trí thức Nho giáo Trung Quốc. Vậy xét về mặt gốc rễ, thì đội ngũ nhà Nho Trung Quốc được hình thành trong bối cảnh nào, thưa ông?

- Ở Trung Quốc, sau một thời kỳ hình thành nền văn hóa chữ viết là một thời kỳ tự do tư tưởng kéo dài khoảng 300 năm, đó là thời Xuân Thu - Chiến Quốc. 

Thời kỳ ấy xuất hiện khái niệm "Bách gia", có nghĩa là "trăm nhà" để nói về toàn bộ đội ngũ trí thức trong xã hội. Nhưng "trăm nhà" là cách nói mang tính biểu tượng, còn thực tế người ta đề cập chính đến "Lục gia", nghĩa là 6 nhà, trong đó có 4 nhà cố định là Nho, Lão, Mặc, Pháp. Còn lại mấy nhà khác, các nhà nghiên cứu người thì kể là Binh gia và Nông gia.

Người thì kể là Tung hoành gia và Tạp gia. Người thì kể là Âm dương gia và Tiểu thuyết gia. Nói thế để thấy tình hình phức tạp, không đơn giản. Nhưng có điểm chung, tất cả đều là kẻ sĩ và đều muốn rao giảng các học thuyết của mình cho thiên hạ.

"Sĩ" là gì? Đó là chỉ những người biết chữ, thuộc về giai cấp thống trị nhưng lại không cai trị trực tiếp. Tại sao lại không cai trị trực tiếp? Tại vì căn cứ vào quá trình phân công lao động mà giai cấp thống trị chia làm 2 bộ phận: Người thủ lĩnh và bộ phận giúp việc cho thủ lĩnh. Đám kẻ sĩ chính là người giúp việc cho thủ lĩnh.

- Kẻ sĩ - trí thức sẽ có nhiệm vụ giúp việc cụ thể như thế nào?

- Nhiệm vụ của tầng lớp trí thức là đẻ ra tri thức và các phương thức cai trị cho chế độ. Để chuyên tâm làm công việc sản xuất tư tưởng, tinh thần đó, họ được giải phóng hoặc tự giải phóng bản thân khỏi lao động sản xuất vật chất trực tiếp. 

Sự giải phóng đó là tiền đề tồn tại. Chính từ tiền đề đó mới sinh ra tâm lý nhà Nho nếu có trồng hoa thì cũng là để ngắm, để chơi, chứ không phải để buôn bán, càng không phải để định giá bông hoa bằng tiền bạc. 

Ngay cả khi không có điều kiện tham gia vào bộ máy chính quyền, mà phải làm các nghề tự do thì nghề nghiệp của họ vẫn là những nghề phi sản xuất như dạy học, chữa bệnh, xem phong thủy. 

Nói gọn lại, đó là làm công việc sáng tạo và “tích lũy” đòi sống tinh thần cho xã hội, Điều này khiến các nhà Nho truyền thống luôn tự ru ngủ mình là những người cao quý, sạch sẽ, không bị dính vào những việc “cổ cày vai bừa” như phần đông dân chúng. 

Nguyễn Trãi từng bảo: Không có tiểu nhân thì lấy ai nuôi quân tử? Không có tiểu nhân thì quân tử nhọc. Như thế, nhà Nho nghiễm nhiên được cho là tầng lớp quân tử, đứng trên, đặt trong sự so sánh với tầng lớp trực tiếp sản xuất của cải vật chất cho xã hội.  

- Những trí thức Nho giáo theo kiểu ông vừa kể là những người được nhà vua trọng dụng, được gọi là nhà Nho hành đạo, còn những người không được trọng dụng thường có tâm lý bất mãn thời cuộc nên thường tìm cách quy ẩn, rong chơi với đời?

- Hành đạo hay ẩn dật cũng chỉ là một số ít. Bởi vì hành đạo hay ẩn dật mà có tên tuổi lưu truyền lại cho đời sau thì được xếp vào dạng hiển Nho, mà trong bất cứ giai đoạn nào thì hiển Nho cũng ít hơn rất, rất nhiều so với hàn Nho, nghĩa là những nhà Nho không đỗ đạt, không danh tiếng.

- Mà hệ thống thi cử phong kiến khiến tỉ lệ độ đạt là cực thấp?

- Ngày xưa để được đi thi đã rất khó khăn chứ chưa nói gì tới việc đỗ đạt. Đi học thì tự do nhưng phải học đến một mức nào đó mới được ông thầy công nhận là đủ trình độ để đi hạch. Những ai đủ trình độ để đi hạch được gọi là khóa sinh. Những khóa sinh tốt nhất được các ông thầy lập danh sách, gửi cho quan huyện duyệt, và lúc ấy mới được gọi là học sinh. 

Khi đã là học sinh thì bắt đầu được hưởng chế độ riêng như được miễn trừ những việc tay chân, khiêng vác, được tham gia vào văn hội, sĩ hội, được tế Khổng Tử, được ngồi vào “chiếu trên” của làng xã. Những thứ ưu tiên nho nhỏ ấy đã đủ làm lên một thân phận.

Sau đó học sinh sẽ đi thi Hương, và vòng thi đầu tiên này sẽ có 2 hình thức đỗ. Một là đỗ chính thức, từ đời Lê trở về trước gọi là hương cống. Hai là đỗ không chính thức, gọi là sinh đồ.

Đến triều Nguyễn thì hương cống được gọi bằng tên mới là cử nhân, sinh đồ được gọi bằng tên mới là là tú tài. 2 kiểu đỗ không giống nhau. Hương cống hay cử nhân có nghĩa là được cống lên, cử lên với triều đình, được tham dự các vòng thi quan trọng tiếp theo như thi Hội, thi Đình. 

Còn sinh đồ hay tú tài là đỗ vớt, chỉ có tính chất an ủi. Mà nếu chỉ đỗ tú tài thì bị khống chế, chỉ được làm lại, nghĩa là làm người giúp việc cho quan, chứ nhất định không được làm quan trừ một vài ngoại lệ đặc biệt.

- Hệ thống thi cử chặt chẽ như thế khiến đội ngũ trí thức Nho giáo luôn bị phân tầng mà như ông nói là số lượng hàn Nho luôn cao gấp nhiều lần số lượng hiển Nho, nhưng đấy là đặt trong sự so sánh giữa các trí thức Nho giáo với nhau. 

Còn nếu đặt trong sự so sánh với phần đông dân chúng thì có lẽ dẫu chỉ là hàn Nho, dẫu chỉ biết dăm ba chữ thánh hiền, dẫu chỉ có thể là một ông đồ dạy học ở một làng quê hẻo lánh... thì những trí thức ấy vẫn có được sự tôn trọng nhất định từ phần đông dân chúng không biết chữ?

- Đúng vậy! Nếu ước lượng một làng ngày xưa có khoảng 100 người dân thì may lắm cũng chỉ có khoảng một vài người đi học. Thậm chí có làng trong nhiều thế kỷ không có người nào đi học cả.

- Và đặc điểm đầu tiên, quan trọng nhất của những người có học - những trí thức Nho giáo nói chung khi họ là nhân vật độc diễn trên diễn đàn, có phải là tư tưởng trung quân ái quốc không ạ?

- “Giá trị” đầu tiên của tầng lớp trí thức này là sự trung thành. Họ trung thành với chế độ, với triều đình. Trong nhiều trường hợp, khi nhận ra triều đình không xứng đáng với lòng trung của mình thì họ cũng không chống lại, càng không chống lại bằng vũ lực. 

Nho giáo là học thuyết tôn quân một cách tuyệt đối. Ngôi vua là bất khả tư nghị, là miễn bàn, cho nên không ai chống lại cả, người chống lại bị xem là phản nghịch, là đạo tặc. 

Thế mới nói Nho giáo gắn với phương diện quan liêu của chế độ, cũng đồng thời gắn với phương diện lý tưởng của chế độ. Tiếp nữa là họ trung thành với đạo lý. Nhà Nho rất tự tôn, tự trọng, coi lòng trung sánh với mặt trời mặt trăng. Và coi đó như một giá trị rất lớn về mặt đạo đức.

- Chính vì chữ "trung" tuyệt đối này mà trong rất nhiều trường hợp "trung quân" lại đồng nghĩa với "ngu trung", vì người mà họ trung không phải minh quân, mà là hôn quân, thậm chí là đại hôn quân, phải không ạ? Tới đây thì tôi muốn lật ngược vấn đề để hỏi một nhà nghiên cứu như ông xem bên cạnh những giá trị “sáng láng”, không còn phải bàn cãi thêm của đội ngũ trí thức Nho giáo thì những mặt chưa sáng của họ là gì?

- Họ luôn ủng hộ một chế độ thái bình thịnh trị, nhưng thái bình luôn được ưu tiên hơn thịnh trị. Yên ổn thì thiết thực hơn là phát triển.

- Thái bình mà thiếu thịnh trị thì đấy là một thái bình tĩnh, một thái bình rất dễ khiến con người ta đến một lúc nào đó trở nên lạc hậu với những vận động mới của thời đại. 

Khi quá nhấn mạnh yếu tố thái bình, nghĩa là yên ổn, không có chiến tranh mà chưa xem trọng yếu tố thịnh trị, nghĩa là nội lực, sự phồn vinh của một xã hội thì cũng có nghĩa con người ta rất kém sáng tạo. Và trong một giai đoạn vận động nào đó, thậm chí cái sự kém sáng tạo này còn tiệm cận đến sự trì trệ. Tôi nói như vậy liệu có đúng không, thưa giáo sư?

- Phải nói một cách lạnh lùng, thẳng thắn rằng Nho giáo là học thuyết thiếu sáng tạo bậc nhất. Ngay cả lãnh địa mà Nho giáo tự hào bậc nhất là văn chương thì anh cũng thấy ở đó tính chất khuôn mẫu là rất lớn. 

Vì khuôn mẫu nên nhiều điển cố, điển tích, hình ảnh, hình tượng cứ thế lặp đi lặp lại. Còn nhìn ở phương diện xã hội thì nhà Nho cực kỳ xa lạ với cái mà chúng ta sau này gọi là "tư tưởng dân chủ". 

Cho nên ở Việt Nam, người đi xa nhất trong dân chủ hóa là cụ Phan Châu Trinh thì cụ cũng không thể hình dung nổi đến một lúc nào đó lại xuất hiện một tầng lớp không thuộc tầng lớp Nho học mà lại lãnh đạo xã hội.

- Nhiều lúc tôi suy nghĩ và cứ phân vân rằng không biết mình suy nghĩ như thế có cực đoan quá không, đó là đức Khổng Tử tạo ra một học thuyết lớn nhưng đồng thời cũng tạo ra một cái “vòng kim cô” lớn. Để rồi hàng ngàn năm phong kiến, không có bất cứ trí thức Nho giáo Việt Nam nào có thể cựa quậy, chứ không thể thoát khỏi cái “vòng kim cô” ấy?

- À, trong hoàn cảnh phi truyền thống thì có thể họ đi ra khỏi Khổng Tử ở mặt này hay mặt khác, nhưng khi ấy họ còn là nhà Nho hay không thì phải nghiên cứu cụ thể từng trường hợp. 

- Ông đã có những nghiên cứu rất sâu về một loại hình nhà Nho gọi là "nhà Nho tài tử". Ít nhiều thì những nhà Nho kiểu này cũng thoát khỏi khuôn mẫu của những nhà Nho truyền thống, nhưng xét về bản chất thì họ vẫn chưa thể và không thể tạo nên cái gọi là "cách mạng"?

- Khi xã hội phát triển đến giai đoạn bắt đầu xuất hiện đô thị, xuất hiện một môi trường hoạt động kinh tế, văn hóa tương đối độc lập với nền kinh tế công xã kết hợp với chuyên chế truyền thống, từ đó xuất hiện lớp người buôn bán, tạo ra nền kinh tế nhỏ... thì cũng là lúc bắt đầu xuất hiện loại hình nhà Nho thứ ba, không giống 2 loại hình nhà Nho hành đạo và nhà Nho ẩn dật trước đó. Đó là nhà Nho tài tử. Loại nhà Nho này không trung thành vô điều kiện với đạo lý và triều đình. 

Họ có những “góc khuất” và đặc biệt họ đã nhấn mạnh đến những phương diện như tâm lý cá nhân, tài năng cá nhân. Họ tự cho mình cái quyền đòi hỏi. Cho nên loại nhà Nho này có đặc điểm thị tài, đa tình và bất trị.

- Chúng ta sẽ nhớ ngay đến cái ngạo nghễ, ngang tàng của những trí thức như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát phải không ạ? Một người thì tuyên ngôn: "Xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh", “quyết làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh”. Một người thì tuyên thệ: "Nhân sinh quý thích chí”, “Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan Khổng... cựa đuôi kình toan vượt bể Trình Chu”. 

Nhưng xét cho cùng thì trong cuộc đời,  không tìm được những giá trị đẹp đẽ như hoa mai kia, cũng không thể làm "cây thông" trong cái vận kiếp mình đang sống kia, nên phần lớn những nhà Nho tài tử vẫn kết thúc cuộc đời trong những tấn bi kịch, hoặc là bi kịch thân phận, hoặc là bi kịch về tinh thần?

- Tôi đã có nhận định rằng, dẫu có nhiều đóng góp cho sự vận đông của lịch sử, thì xét cho cùng, nhà Nho tài tử vẫn chỉ là “mùa quả lép” của lịch sử mà thôi.

Ảnh trong bài: Minh Trí.
Ảnh trong bài: Minh Trí.

- Bây giờ nhìn lại toàn bộ những bước thăng trầm của Nho giáo và những đỉnh cao - vực sâu của đội ngũ trí thức Nho giáo trong lịch sử Việt Nam, ông có nghĩ rằng nó ảnh hưởng đến ngay cả đội ngũ trí của chúng ta hôm nay không ạ? 

Vẫn biết là từ đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp xâm lược và "sự va chạm với phương Tây làm tan rã không biết bao nhiêu bức tường thành kiên cố" (chữ của Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”) thì rất nhiều nhà Nho đã chính thức "vứt bút lông đi, giắt bút chì", nhưng ở một đất nước mà Nho giáo đã thấm vào từng chân tơ kẽ tóc của một đời sống văn hóa, trải qua tầng tầng lớp lớp các thế hệ thì tôi nghĩ rằng nó vẫn ít nhiều in dấu trong bộ mặt trí thức hôm nay.

- Không phải cứ học chữ Hán, cứ theo tư tưởng thánh hiền mới là nhà Nho. Có những người chưa bao giờ cầm đến sách của Khổng Tử, thậm chí cũng chẳng biết Khổng Tử là ai nhưng vẫn chịu ảnh hưởng một cách sâu đậm đấy. 

Bởi học thuyết này có một đặc điểm là nó thấm vào trong phong tục tập quán, trong nếp sống, nếp nghĩ thông qua nhiều phương cách khác nhau, chứ không chỉ bằng con đường học hành thi cử. Điều quan trọng hơn là chúng ta đã đánh đồng những giá trị của học thuyết này với đạo lý dân tộc. 

Cho nên những ảnh hưởng của đội ngũ Nho giáo đến tính cách, tâm lý của đội ngũ trí thức hôm nay là điều chắc chắn, không tránh khỏi.

- Vấn đề là nó ảnh hưởng cụ thể như thế nào phải không giáo sư? Dường như những mặt trái của học thuyết này như sự bảo thủ, như việc coi trọng "thái bình" hơn "thịnh trị" lại đang ảnh hưởng một cách dễ thấy. Còn những yếu tố tích cực của nó như phẩm hạnh, tiết tháo của người làm quan thì lại ảnh hưởng một cách ít thấy hoặc khó thấy hơn. Thú thật là cứ mỗi khi đọc báo, nghe tin lại có một quan chức bị xử tội tham ô, tham nhũng, tận dụng địa vị, chức tước của mình để biển thủ công quỹ, phục vụ cho những nhóm lợi ích nào đó... là không hiểu sao tôi lại nghĩ đến Ngô Thì Nhậm. Tất cả chúng ta đều biết đến câu chuyện khi Ngô Thì Nhậm làm quan cho Tây Sơn và Đặng Trần Thường đến xin ông nâng đỡ thì ông đã quát lên rất khẳng khái rằng: "Ở đây cần người vừa có tài, vừa có hạnh giúp vua trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác".

Sau này thời thế đổi thay, Đặng Trần Thường làm quan nhà Nguyễn, được giao đánh phạt những quan lại thời Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và đã ra câu đối đầy mỉa mai: "Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ mấy ai".

Ngô Thì Nhậm đã khẳng khái đối lại: "Thời Chiến Quốc, thời Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế". Nghe đâu, Đặng Trần Thường ép phải sửa "thế thời phải thế" sang "thế đành theo thế", nhưng Ngô Thì Nhậm kiên quyết không sửa và cuối cùng đã bị Đặng Trần Thường tẩm thuốc độc vào roi đánh chết. Chúng ta không biết sự thật của câu chuyện mang màu sắc giai thoại này là như thế nào, nên có lẽ chỉ nên nhìn vào ý nghĩa biểu tượng của nó.

Nếu nhìn như thế thì khi quan sát đời sống hôm nay, một trí thức, một nhà nghiên cứu như ông có bao giờ tự thốt lên: trời ơi, sao những người có nhân cách và tiết tháo giống Ngô Thì Nhậm ngày xưa cứ diệu vợi, xa xôi thế? Một cách tổng quát hơn, theo ông đội ngũ trí thức hôm nay nên học gì và không nên học gì từ những trí thức Nho học ông cha mình?

- Đối với tình hình bây giờ, tôi nghĩ điều cần học nhất là sự hết mình với mục đích của cuộc đời và không thay đổi tính định hướng cuộc đời. Tức luôn phải là người có phẩm hạnh, có thể làm gương cho người khác.

Còn điều không nên học là không dám có ý kiến khác. Chừng nào giới trí thức không dám hoặc không thể có ý khác với người khác thì chừng ấy sự tồn tại của giới trí thức là vô nghĩa.

- Với thêm một điều kiện, cái ý kiến khác ấy phải là trí tuệ thực sự và phải là thành ý, mang tinh thần xây dựng?

- (Gật đầu)

- Xin cảm ơn ông!

Phan Đăng (thực hiện)

Các tin khác

Việc gì có lợi cho người dân châu Phi thì tôi quyết tâm làm

Việc gì có lợi cho người dân châu Phi thì tôi quyết tâm làm

Là một trong 2 sĩ quan đầu tiên đặt chân tới Nam Sudan tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) vào năm 2014, cũng là vị chỉ huy trưởng đầu tiên đưa đơn vị công binh sang làm nhiệm vụ tại Abyei năm 2022, Đại tá Mạc Đức Trọng là người từng trải ở châu Phi. Những trải nghiệm đáng nhớ và đáng quý vẫn đang song hành cùng ông trong công việc tại Cục GGHB Việt Nam.

“Chúng ta chỉ là mảnh ván nhỏ trên cây cầu nối quá khứ vào tương lai”

“Chúng ta chỉ là mảnh ván nhỏ trên cây cầu nối quá khứ vào tương lai”

Ở tuổi 87, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền vẫn đến cơ quan làm việc mỗi ngày. Chầm chậm từng bước nơi bậc cầu thang, phòng làm việc của ông trên tầng 2 của khu nhà kiến trúc Pháp thuộc Cục Di sản, trên phố Ngô Quyền, Hà Nội. Căn phòng nhỏ, một nửa là những giá để tài liệu cao ngất, một nửa dành cho ông. Trên bàn, quyển sách ông đang đọc dở, trang bản thảo ông đang chấp bút, nét chữ vẫn nghiêm ngắn, rắn rỏi.

Giáo sư Serge Haroche: Khoa học không thể phát triển nếu tách rời con người

Giáo sư Serge Haroche: Khoa học không thể phát triển nếu tách rời con người

Giáo sư Serge Haroche, nhà vật lý lượng tử người Pháp, từng đồng đoạt Giải Nobel năm 2012. Với ông, khoa học không phải là những phương trình khô khan, mà là một hành trình của đam mê gắn liền với những bất ngờ nối tiếp, của phong cách sống, lòng yêu nước, đạo đức và trách nhiệm.

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân: Có người gọi tôi là “cường hào ác bá”!

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân: Có người gọi tôi là “cường hào ác bá”!

Bình thản giữa búa rìu dư luận, dấn thân vào phê bình công khai, Tiến sĩ Hà Thanh Vân là cây bút cá tính mạnh, đôi khi ngược dòng. Nhưng, phía sau là một người phụ nữ nồng nhiệt, yếu mềm, với niềm tin mãnh liệt vào giá trị lõi của nghệ thuật. Trong thời đại số vội vã, chị xem văn chương như kháng thể mong manh mà bền bỉ, chống lại sự lãng quên và nông nổi; đồng thời, đối thoại với ANTG Giữa tháng - Cuối tháng về những vết thương tinh thần của một đời sống văn hóa đang chật vật để không bị cuốn trôi.

Từ Việt Nam vươn ra quốc tế

Từ Việt Nam vươn ra quốc tế

Trong định hướng phát triển thể thao thành tích cao vươn ra đấu trường thế giới, Việt Nam đã có nhiều đơn vị, bộ môn phát triển bài bản từ lâu. Một trong số đó là Boxing, môn võ có hơn 2 thập niên hình thành, phát triển và đào tạo không ít VĐV, HLV xuất sắc, với những điểm sáng nổi bật.

Nhà văn Thiên Sơn: “Chúng ta phải làm nghệ thuật bằng tình yêu máu thịt với dân tộc mình”

Nhà văn Thiên Sơn: “Chúng ta phải làm nghệ thuật bằng tình yêu máu thịt với dân tộc mình”

Nhà văn Thiên Sơn sáng tác cả thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của anh phản ánh những vấn đền nóng bỏng của đời sống đương đại được bạn đọc đón nhận. Gần đây, anh cho ra mắt các tác phẩm về đề tài lịch sử hiện đại và chiến tranh cách mạng. Anh cũng là một nhà báo quan tâm đến lĩnh vực văn học, điện ảnh.

“Thành tựu 30 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không phải tự nhiên mà có...”

“Thành tựu 30 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không phải tự nhiên mà có...”

Lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là quá trình hiếm có, là hình mẫu trong quan hệ quốc tế về hàn gắn và xây dựng quan hệ sau chiến tranh. Tròn 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2025), phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng đã có cuộc trò chuyện cùng ông Phạm Quang Vinh - nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ (11/2014 - 6/2018).

Kỷ nguyên mới phải có con người mới

Kỷ nguyên mới phải có con người mới

Đại tá, GS.TS Trình Quang Phú là nhà khoa học, nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động chính trị - xã hội; Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông, tác giả của nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cần hiểu đúng để điều trị bệnh trầm cảm

Cần hiểu đúng để điều trị bệnh trầm cảm

Trầm cảm ở tuổi vị thành niên đang là một vấn đề nóng của xã hội hiện nay. Tỷ lệ trẻ trầm cảm ngày càng gia tăng do những áp lực của thi cử, của xã hội và sự mất kết nối với trẻ.

Tôi có niềm tin và tự hào về sự phát triển của nước Việt Nam

Tôi có niềm tin và tự hào về sự phát triển của nước Việt Nam

Tôi đã nhiều lần nghe đoạn băng ghi âm sự kiện lịch sử diễn ra tại Đài Phát thanh Sài Gòn vào buổi trưa ngày 30/4/1975. Lần nào cũng dâng trào niềm hân hoan non sông liền một dải… Và tôi chợt chiêm nghiệm, trong thời khắc trọng đại đánh dấu đất nước hoàn toàn thống nhất, có 3 người giữ vai trò chủ chốt tại Đài phát thanh Sài Gòn, thì một người miền Bắc là Giáo sư Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, quê Hà Nội), một người miền Trung là Trung tá Bùi Tùng (đại diện quân Giải phóng, quê Đà Nẵng) và một người miền Nam là Đại tướng Dương Văn Minh (Tổng thống chính quyền Sài Gòn; quê Mỹ Tho, Tiền Giang, nay là tỉnh Đồng Tháp). Phải chăng, đó là sự sắp đặt thú vị của dòng chảy lịch sử luôn cháy bỏng khát vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc Việt Nam?

Tận cùng của báo chí là văn hóa - Tận cùng của văn hóa là con người

Tận cùng của báo chí là văn hóa - Tận cùng của văn hóa là con người

Nhà báo Hồ Quang Lợi là một trong những cây bút bình luận, chính luận và quốc tế sắc sảo của báo chí Việt Nam, đồng thời là một nhà lãnh đạo uy tín trong lĩnh vực báo chí, truyền thông. Ông luôn nhấn mạnh vai trò của đạo đức và nhân văn trong nghề báo, ông cho rằng “phẩm giá con người là điều quý giá nhất”. Ông tin tưởng rằng báo chí phải phục vụ con người và xã hội, đặc biệt trong thời đại công nghệ số hiện nay.

NSND Hoàng Cúc: Dù mai tận thế thì đêm nay sen vẫn gieo trồng

NSND Hoàng Cúc: Dù mai tận thế thì đêm nay sen vẫn gieo trồng

NSND Hoàng Cúc nói, chị không sống bằng những hào quang của sân khấu hay điện ảnh. Giờ đây, một buổi sớm mai thức dậy, được ngắm ánh bình minh, với chị, đó là hạnh phúc. Sự nâng niu, trân quý từng thời khắc của cuộc sống ấy khiến người đàn bà tài hoa, mỹ nhân của màn ảnh Việt một thời vẫn không ngừng sáng tạo để viết tiếp bản trường ca cuộc đời, về những ánh hào quang chưa bao giờ tàn trên mặt đất...

Cựu chiến binh Mỹ Chuck Searcy: "Tôi tự hào vì được người Việt Nam đón nhận"

Cựu chiến binh Mỹ Chuck Searcy: "Tôi tự hào vì được người Việt Nam đón nhận"

Đã ngoài 80 tuổi nhưng ông Chuck Searcy - Chủ tịch Tổ chức Cựu chiến binh vì hòa bình của Mỹ tại Việt Nam (VFP 160), vẫn dành trọn tâm huyết để hàn gắn những vết thương do chính thế hệ ông từng gây ra trên đất nước mà ông gọi là “ngôi nhà thứ hai”, nơi ông được tha thứ, được chào đón như bạn bè.

Những phút cân não giữa đống đổ nát ở Myanmar

Những phút cân não giữa đống đổ nát ở Myanmar

Chúng tôi gặp Đại tá Nguyễn Minh Khương - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Bộ Công an ngay sau khi anh cùng đoàn công tác từ Myanmar trở về. 7 ngày thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn quốc tế đã lùi lại phía sau, nhưng những giây phút nghẹt thở, căng thẳng và nỗi buồn ám ảnh khi chứng kiến những mất mát, đau thương của người dân Myanmar vẫn vẹn nguyên trong tâm trí anh và đồng đội...

Đại sứ Mexico Alejandro Negrín: “Ở Việt Nam, tôi luôn thấy bình yên”

Đại sứ Mexico Alejandro Negrín: “Ở Việt Nam, tôi luôn thấy bình yên”

Ngày 19/5/1975, Việt Nam và Mexico thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong 50 năm qua, hai nước đã có mối quan hệ bền chặt và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhân dịp này, phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng của Báo CAND đã có cuộc trò chuyện với ngài Alejandro Negrín - Đại sứ Mexico tại Việt Nam với chủ đề những thành tựu hợp tác trong suốt nửa thế kỷ qua, hướng tới những cơ hội thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa, tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Đại sứ Na Uy Hilde Solbakken: Phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và duyên dáng

Đại sứ Na Uy Hilde Solbakken: Phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và duyên dáng

Chúng tôi gặp Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken trong một chiều đầu xuân. Nhà ngoại giao Na Uy gây ấn tượng với phong cách thân thiện, cởi mở. Trong câu chuyện của mình, Đại sứ Hilde Solbakken chia sẻ những vấn đề chung mà cả hai quốc gia cùng quan tâm cũng như cảm nhận của cá nhân Đại sứ về con người và đất nước Việt Nam. Trong đó, bà đặc biệt ấn tượng với sự mạnh mẽ cũng như đức tính chăm chỉ của người phụ nữ Việt Nam.

Việt Nam tự hào ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới

Việt Nam tự hào ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới

Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú (TS.TTƯT) Đinh Văn Lượng là một trong những chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật lồng ngực trong lĩnh vực bệnh phổi và lao. Năm 2024, ông và Bệnh viện Phổi Trung ương thực hiện thành công 3 ca ghép phổi. Đây là một kỳ tích của ngành y tế Việt Nam nói chung và Bệnh viện Phổi Trung ương nói riêng. Từ những kết quả này, TS Lượng tin rằng, Việt Nam đã ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới.

Đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

Đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói, là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản; xây dựng thành công nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.