Chiều 5/6, tại Hà Nội, Bộ Công an phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị quốc tế trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về “Chiến lược công dân số” của Estonia.
Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, Tổ phó Thường trực Tổ công tác triển khai Đề án 06, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số gắn với Đề án 06; đồng chí Bùi Hoàng Phương, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đồng chủ trì hội nghị.
Về phía các chuyên gia quốc tế từ Estonia, có ông Hannes Astok, Giám đốc Học viện Chính phủ số của Estonia và bà Petra Holm, Cố vấn chuyển đổi số quốc gia của Estonia.
Phát triển công dân số trở thành nhiệm vụ cốt lõi, mang tính chiến lược
Theo báo cáo tại hội nghị, trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, việc định hình và phát triển công dân số đã trở thành nhiệm vụ cốt lõi, mang tính chiến lược của Chính phủ Việt Nam nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tại Việt Nam, hành trình này được triển khai đồng bộ gắn liền với Đề án 06, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh và xác thực điện tử và siêu ứng dụng quốc gia VNeID.
So sánh giữa định hướng phát triển công dân số của Việt Nam và Estonia cho thấy hai quốc gia có nhiều điểm tương đồng về mặt chiến lược. Cả hai đều tiếp cận theo hướng lấy người dân làm trung tâm, sử dụng định danh điện tử và cơ sở dữ liệu dân cư làm nền tảng để phát triển dịch vụ công trực tuyến, thúc đẩy giao dịch số và xây dựng xã hội số. Nếu Việt Nam đang triển khai công dân số thông qua Căn cước, VNeID và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thì Estonia cũng phát triển hệ sinh thái số dựa trên định danh điện tử, cơ sở dữ liệu số thống nhất và nền tảng trao đổi dữ liệu X-Road.
Tuy nhiên, Estonia hiện đã phát triển ở mức độ sâu và đồng bộ hơn. Quốc gia này không chỉ số hóa dịch vụ công mà còn xây dựng được một hệ sinh thái số liên thông hoàn chỉnh, nơi dữ liệu giữa các cơ quan được tự động chia sẻ với nhau theo nguyên tắc “once-only”, tức công dân chỉ cần cung cấp thông tin một lần. Trong khi đó, tại Việt Nam, dù đã có nền tảng dữ liệu và định danh số khá lớn, việc liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương vẫn chưa hoàn toàn thống nhất, người dân trong nhiều trường hợp vẫn phải khai báo hoặc xác minh lại thông tin ở nhiều hệ thống khác nhau.
Từ mô hình của Estonia, Việt Nam có thể học hỏi ở cách xây dựng nền tảng dữ liệu liên thông thống nhất, giảm tình trạng dữ liệu phân tán giữa các cơ quan và đẩy mạnh nguyên tắc “người dân không phải cung cấp lại thông tin đã có”. Đồng thời, Việt Nam cũng cần chú trọng hơn đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, nâng cao kỹ năng số, tăng niềm tin của người dân đối với giao dịch trực tuyến và phát triển VNeID theo hướng trở thành nền tảng tích hợp đa dịch vụ thay vì chỉ dừng ở chức năng định danh điện tử. Có thể nói, Việt Nam và Estonia có cùng định hướng chiến lược, nhưng Estonia đã bước sang giai đoạn vận hành xã hội số toàn diện, trong khi Việt Nam hiện vẫn đang trong quá trình xây dựng nền tảng và mở rộng hệ sinh thái công dân số.
Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Bùi Hoàng Phương, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, Việt Nam có những cơ sở dữ liệu quốc gia lớn, nền tảng ứng dụng dùng chung quốc gia, như Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, nền tảng VNeID. Đến nay đã có trên 70 triệu tài khoản định danh điện tử, gần 900.000 tài khoản định danh tổ chức và hơn 9.000 tài khoản định danh người nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam kèm theo rất nhiều tiện ích. Có những tiện ích với hơn 500 triệu lượt truy cập, trung bình là khoảng 3 triệu lượt truy cập mỗi ngày.
Ngoài ra, hiện nay, người dân và các cơ quan nhà nước đang có những bước tiến rất mạnh mẽ trong việc triển khai sử dụng các công nghệ số, đặc biệt là những công nghệ chiến lược như AI, số lượng người sử dụng các ứng dụng này ngày một gia tăng. Đồng thời, Việt Nam cũng xác định nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực số - một trong những yếu tố then chốt.
Đồng chí Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh, chuyển đổi số, đặc biệt là công dân số - lấy con người làm trung tâm chỉ thực sự hiệu quả khi người dân sử dụng nó. Và một nền kinh tế số chỉ có thể phát triển khi người dân, doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động kinh tế trên môi trường số. Một xã hội số chỉ có thể được định hình khi mà công dân số có kỹ năng số, có văn hóa số và việc sử dụng các dịch vụ số trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày.
Chính vì thế, theo đồng chí Bùi Hoàng Phương, cần xác định vai trò quan trọng của công dân số đối với sự phát triển đất nước trong thời gian tới. Việt Nam coi phát triển công dân số là một trọng tâm trong chiến lược chuyển đổi số quốc gia. Và trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều chủ trương, chính sách, đặc biệt là Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Quyết định 749 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình chuyển đổi số quốc gia cũng đặt ra mục tiêu, chiến lược về hình thành và phát triển công dân số.
Đẩy mạnh chiến lược công dân số tại Việt Nam
Bên cạnh những kết quả đạt được, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương nêu rõ, cần thẳng thắn thừa nhận những khó khăn, hạn chế, chẳng hạn như hạ tầng kết nối và chất lượng dịch vụ ở một số khu vực, đặc biệt là nông thôn, vùng sâu vùng xa còn chưa được như mong đợi. Kỹ năng số, văn hóa số của một bộ phận người dân, đặc biệt là nhóm người yếu thế, người cao tuổi còn hạn chế. Và hiện nay một câu hỏi lớn nhất đối với Việt Nam là làm sao để chuyển đổi số thực sự đi vào đời sống, để chuyển đổi số tạo ra được các giá trị thực sự đột phá.
Do đó, để giải đáp những câu hỏi này, cũng như học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đã thành công, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương đề nghị, các đại biểu tham gia tập trung trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm xoay quanh các nội dung trọng tâm: Về phát triển các ứng dụng công dân số, các công cụ số phục vụ người dân; kinh nghiệm thực tiễn của Estonia trong việc xây dựng và vận hành ứng dụng di động…; quản trị và khai thác dữ liệu số; nâng cao năng lực số cho người dân…
Tại hội nghị, các chuyên gia quốc tế hàng đầu từ Estonia đã trình bày 7 chuyên đề mang tính xương sống cấu thành nên sự thành công vượt trội của hệ sinh thái số Estonia:
- Chuyên đề 1: Tổng quan mô hình công dân số thành công đột phá tại Estonia.
- Chuyên đề 2: Kinh nghiệm nghiên cứu, phát triển ứng dụng và các nền tảng số khu vực công.
- Chuyên đề 3: Hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông và chiến lược phổ cập thiết bị số toàn dân.
- Chuyên đề 4: Kinh nghiệm thực tiễn trong việc triển khai và hoàn thiện khung hành lang pháp lý về công dân số.
- Chuyên đề 5: Giải pháp nâng cao kỹ năng số toàn diện và định hình văn hóa số trong cộng đồng.
- Chuyên đề 6: Thúc đẩy chiến lược tạo lập dữ liệu sạch, kết nối và liên thông dữ liệu quốc gia.
- Chuyên đề 7: Bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và bảo đảm an toàn thông tin tuyệt đối trong môi trường số.
Các nội dung trên đã nhấn mạnh một triết lý sâu sắc: Công dân số không thuần túy là bài toán về mặt công nghệ, mà là sự tổng hòa của thể chế chính sách, năng lực quản trị dữ liệu, xây dựng niềm tin số bền vững và nâng cao văn hóa số trong toàn bộ xã hội.
Phát biểu tại hội nghị, ông Hannes Astok - Giám đốc Học viện Chính phủ số của Estonia chia sẻ chặng đường hơn 10 năm ở Estonia trong xây dựng chính phủ số, xã hội số và công dân số. Trong quá trình triển khai hệ thống này, Estonia cũng gặp nhiều vấn đề về định danh, khả năng tiếp cận dữ liệu của cá nhân, doanh nghiệp, những vấn đề liên quan mạng xã hội... Từ đó, Estonia xác định rằng, chỉ có Chính phủ, các cơ quan Chính phủ mới có thể cung cấp được hệ thống định danh điện tử mạnh mẽ và an toàn nhất. Giám đốc Học viện Chính phủ số của Estonia tin tưởng, những nguyên tắc, phương thức mà Estonia sử dụng trong việc phát triển chính phủ số, công dân số sẽ là những thông tin, bài học, kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Văn Long khẳng định những kinh nghiệm quý báu của Estonia là nguồn tham khảo quý giá, phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện mô hình công dân số tại Việt Nam.
Thứ trưởng Nguyễn Văn Long nhấn mạnh, thời gian tới, để đẩy mạnh chiến lược công dân số tại Việt Nam, phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách trong việc quản lý và phát triển xã hội; đặc biệt xây dựng và kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia, cũng như huy động hiệu quả các nguồn lực tham gia vào tiến trình chuyển đổi số; thúc đẩy liên thông Cơ sở dữ liệu quốc gia với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành của bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp được phép khai thác, sử dụng và phát triển dữ liệu.
Đảm bảo an ninh, an toàn thông tin, một nhiệm vụ quốc gia hết sức cấp thiết, đặc biệt là việc làm chủ dữ liệu và làm chủ công nghệ trong không gian số. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và tuyên truyền để người dân hiểu, tích cực và chủ động tham gia vào công cuộc chuyển đổi số và phát triển xã hội số. Tham khảo từ những bài học thành công của Estonia.
Thứ trưởng Nguyễn Văn Long mong muốn tiếp tục thúc đẩy hợp tác với Estonia trong việc xây dựng và triển khai các nền tảng quốc gia, tương tự như những mô hình thành công mà Estonia đã áp dụng tại Châu Âu và một số quốc gia khác.
Tại hội nghị, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an đã làm rõ định hướng chiến lược trọng tâm của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo:
- Đột phá giá trị dữ liệu: Chuyển từ giai đoạn số hóa giấy tờ đơn thuần sang "đột phá giá trị", biến dữ liệu thành nguồn lực cốt lõi phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung toàn lực tối ưu hóa, làm giàu Hệ sinh thái dữ liệu số xung quanh Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và siêu ứng dụng VNeID; kết nối và liên thông dữ liệu theo thời gian thực (real-time).
- Phát triển VNeID thành Siêu ứng dụng Quốc gia: Ưu tiên tích hợp toàn diện 4 lĩnh vực trọng điểm có tần suất sử dụng lớn nhất: Tài chính - Ngân hàng (xác thực sinh trắc học eKYC, chấm điểm tín dụng an toàn, phòng chống lừa đảo); Y tế - An sinh xã hội (Sổ sức khỏe điện tử, chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt); Giao thông vận tải (số hóa toàn bộ giấy tờ tùy thân, giấy phép lái xe, tích hợp thu phí không dừng ETC); và Giáo dục và Đào tạo (liên thông học bạ, văn bằng số, tối ưu thủ tục tuyển sinh trực tuyến).
- An ninh mạng và Bảo vệ dữ liệu ở mức cao nhất: Đặt vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân (theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP) và an toàn thông tin lên mức cảnh báo cao nhất. Mọi giao dịch điện tử và dịch vụ công trực tuyến sẽ được củng cố dựa trên nền tảng xác thực sinh trắc học tiên tiến (khuôn mặt, vân tay, mống mắt) nhằm triệt tiêu hoàn toàn gian lận công nghệ cao.
- Mở rộng hợp tác quốc tế và chuẩn hóa kỹ thuật: Chủ động chuẩn hóa các cổng kết nối kết nạp API đồng bộ, nâng cấp chứng thư số, giải pháp bảo mật đầu cuối. Việt Nam đang tích cực nghiên cứu giải pháp công nhận lẫn nhau về định danh điện tử xuyên biên giới dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt như ICAO, NIST nhằm phục vụ giao thương và hội nhập toàn cầu.