Không thể nói ra...

Gia đình ấy thật vô tâm, chẳng ai để ý hàng ngày tôi ăn gì mà vẫn sống. Mẹ tôi không quyết liệt như hai đứa anh song cũng vì miếng ăn mà gầm gừ mỗi khi tôi bén mảng. Hiếm hoi lắm mới có dịp mẹ tôi bỏ đi, nhưng cũng chẳng đến lượt tôi. Bây giờ có chăng còn tôi mơ hồ cảm nhận đó là những đứa anh của mình, còn họ đã quên tôi, xa lánh tôi từ lâu lắm. Không vì miếng ăn chắc chúng tôi sẽ thương nhau hơn...

Giá ai đó hiểu được lời tôi nói. Vẫn biết thần Phật lãnh hội hết những gì chúng sanh muốn và không muốn; riêng tôi chỉ mong con người hiểu mình, bởi tôi đang chung sống cùng họ. Mạng của tôi phụ thuộc vào họ. Tôi không thể nói tiếng người trong lúc lại hiểu tiếng người. Oái oăm! Thường người câm bẩm sinh đi đôi với điếc. Nếu ai đó câm mà không điếc thì thật khủng khiếp, có khi khủng khiếp hơn tôi với tư cách chó. Bởi, xin nhắc lại: Tôi hiểu tiếng người. Chủ nhân tạm của tôi hiện tại là một gia đình Phật tử, thường hay nghe đĩa giảng pháp. Lắm lúc buồn ngồi trước hiên tôi cũng lõm bõm nhận được ít câu… Tôi chợt liên tưởng không khéo kiếp trước mình là người, do gây nghiệp lại không có đức bù vào nên kiếp này làm chó. Còn chuyện tôi nghe được tiếng người? Chịu.

Đối diện với gia chủ tạm của tôi là ngôi nhà trống, vốn trước của một ông già (đã mất). Gia đình đứa con trai trưởng của ông ở ngay lô đất bên cạnh. Tôi được mẹ sinh ra tại đó, yên lành, có cái ăn. Ông già mất, tôi thường đứt bữa, phải qua nhà con trai trưởng của ông kiếm ăn. Ở đó có mẹ tôi cùng hai anh lứa đầu. Hễ tôi mon men tới là bị cắn. Cái đói rút thân tôi còn chút bẻo. Nhiều bữa mờ mắt bước liêu xiêu trước gió. Tôi nảy ý loanh quanh kiếm ăn. Chỗ tôi hướng đến là hai ngôi nhà nhỏ sát nhau phía đối diện. Một gia đình nuôi một bầy chó phốc, nhốt kín bịt bưng. Những lúc các thành viên trong gia đình đó đi làm về, mở cổng, một vài con trong chúng lẻn ra chạy loăng quăng, chân này đá vào chân kia. Có lần thằng thanh niên ấy về khuya, mở cổng dắt xe vào, chúng đồng nhất thể chạy ra ngửi tìm mùi nước đái của tôi. Nhân lúc chủ vất vả gom bầy chó về, tôi xông vào hành lang ngôi nhà ấy. Nhìn thấy thức ăn, tôi hoa cả mắt: một dĩa xíu quách. Chó nhà này sướng đến thế là cùng. Tôi ngoạm hai miếng chạy ra. Đêm đó răng tôi mỏi nhừ, ngủ vẫn còn mơ mình gặm xương. Tôi còn chầu chực mấy đêm nữa cơ may kiếm tí chút.

Nhờ loay xoay trước cổng ngôi nhà nhiều chó ấy vào mỗi đêm mà tôi làm quen được với một trong hai con chó phốc đực. Vàng rộm, bóng mượt, thơm phức xà phòng, "người ta" trông khá bảnh. Duy đôi mắt ấy không ánh lên vẻ sung túc vương giả, mặc dầu cuộc sống sự thực như vậy. Cái đêm hôm ấy "người ta" tiến gần bên tôi, trong lúc tôi đang chuẩn bị xộc vào, đành cố giấu sự khốn cùng. Mùi bẩn thỉu trên người tôi, vẻ rất xa lạ với "người ta". Tuần sau nhà "người ta" thiết kế thêm cái cổng chận ở hành lang. Họ chỉ mở cổng ngoài để dắt xe, lũ chó phốc chịu không ra được. Chúng sủa ẳng, cả xóm nhức óc.

Nhớ "người ta".

Đứa cháu đích tôn của ông già trước đây thường rủ bạn tập trung tại ngôi nhà có bàn thờ ông nội nhậu nhẹt. Mồi, khi là thịt chồn, mèo, thậm chí chó. Chúng bắt ở đâu về, giấu giếm làm rồi bưng ra sân chuốc rượu ca ngâm vớ vẩn. Có hôm một mụ trong xóm mất gà, liều vào xem có phải chúng ăn trộm không. Bếp trống. Từ trong nhà tắm bốc hơi nóng ra. Hỏi thì chúng nói có người đang tắm. Mụ bảo, thanh niên trời mùa hè mà cũng tắm nước sôi à, rồi hậm hực ra về. Tôi thú thực vì cơn đói nên không phân biệt thịt con gì, cứ thấy xương vứt ra là nhảy xổ tới tranh giành với anh và mẹ.

Gia đình ấy thật vô tâm, chẳng ai để ý hàng ngày tôi ăn gì mà vẫn sống. Mẹ tôi không quyết liệt như hai đứa anh song cũng vì miếng ăn mà gầm gừ mỗi khi tôi bén mảng. Hiếm hoi lắm mới có dịp mẹ tôi bỏ đi, nhưng cũng  chẳng đến lượt tôi. Bây giờ có chăng còn tôi mơ hồ cảm nhận đó là những đứa anh của mình, còn họ đã quên tôi, xa lánh tôi từ lâu lắm. Không vì miếng ăn chắc chúng tôi sẽ thương nhau hơn. Mẹ vẫn thường cắn rận trên mình những đứa con. Lần tôi bị thằng cháu đích tôn nện một gậy, vết thương sâu mưng mủ, mẹ ngày nào cũng liếm vào chỗ nhung nhúc troi ấy. Tôi ghét thằng cháu đích tôn kia. Những lần nó gọi tôi phải tới bên, dè dặt ngoắt đuôi làm bộ. Tôi nghĩ nó sẽ tóm lấy mình làm món "cờ tây" thết lũ bạn vô công rồi nghề nên tôi tìm cách lánh mặt, và nghĩ nếu nó quên mình thì may phúc lắm. 

Minh họa: Lê Trí Dũng.
Minh họa: Lê Trí Dũng.

Tôi chuyển qua kiếm ăn ở gia đình bên cạnh, đôi vợ chồng mà tôi đã gọi là "chủ tạm". Trước đây họ cũng nuôi hai con chó. Con chó nhỏ lớn ngang bằng tôi thì chết. Họ khóc. Rồi sau đó mang nó lên đồi núi chôn. Con thứ hai to lớn, lông mượt, luôn được ngủ trong nhà, ổ trải mấy lớp quần áo cũ và hàng tuần đều được giặt sạch. Con chó phương phi lưng thẳng bằng. Lũ thanh niên cùng đứa cháu đích tôn thèm lắm, tôi biết. Chủ nhà cũng linh cảm được. Con chó này lại khá dạn, nó tưởng con người ai cũng tốt nên thường thủng thẳng lân la đây đó, có lúc vào hẳn nhà hàng xóm ngồi liếm lông ngon ơ. Đó là lý do một hôm nó đi chơi và vĩnh viễn không về. Anh chủ nhà thề từ nay không nuôi chó nữa. Nuôi chó canh giữ kiểu gì cũng bị mất… Tội! Không một ai trong xóm hiểu họ hơn tôi. Bởi tôi hiểu được tiếng người. Bởi tôi đã thấy họ đóng cửa khóc thương một con chó!

Tôi lân la trước nhà họ, không dám chực lúc họ ăn cơm, cứ thập thò. Không được miếng nào. Ngày kế tiếp tôi bị anh chồng đuổi. Vợ anh thấy cũng không nói gì. Lạ. Hai vợ chồng theo Phật, năng đi chùa chẳng lẽ không giúp tôi được miếng ăn. Nghĩ đến đây tôi bắt đầu thấy… vô lý. Và việc tôi tiếp tục chực ăn nhà họ là… có lý. Nói vậy chứ tôi, vì mang chút "tư cách người" nên cũng sinh tự ái. Ngày sau tôi không xơn vơn trước nhà họ nữa. Trưa đói mờ mắt, tôi đào đất nằm dưới bóng cây cố ngủ mà chẳng tài nào nhắm mắt được. Ai trong làng cũng đều dùng bữa, đã ngủ nghỉ. Đất nâu dưới bụng tôi dần chuyển qua trắng. Nóng rát ngực. Chợt nghe tiếng cửa nhà vợ chồng họ mở, tôi gượng dậy lóc tóc tới, đuôi cụp tai rũ. Anh chủ sắp đi làm mà tôi ngỡ họ lại dọn ăn. Cơn đói khiến tôi không phân biệt được thời gian, tỉnh hay đang mơ. Thất vọng. Mệt lả. Tôi định nằm bẹp xuống đó luôn. Lại gượng quay đầu. Tôi nghĩ băng qua đường kiệt chỉ hai mét nếu có xe máy rồ qua chắc nó đâm tôi chết luôn cũng chả nuối tiếc oán thán. Tôi chẳng màng đến mạng này nữa. Chết có khi sướng hơn sống lay lắt đói khổ thế này. Chết, biết đâu tôi có cơ hội đầu thai làm người!

Chợt nghe vợ chồng họ nói chuyện với nhau. Anh chồng bảo hễ con chó ấy mon men đến thì đuổi gấp, chứ để thân quen, rồi nó bị bắt làm thịt mình lại đau… Không thấy tiếng cô vợ. Im lặng. Một lúc tôi lại nghe: "Biết vậy… mà cứ thấy tồi tội". Lại im lặng. Thở dài. "Thôi thì cứ tới bữa em qua bên đổ cho nó ăn rồi về, đừng để nó vào nhà…". Tôi mừng rơn, như được tiêm thuốc tăng lực, vội lách qua bên kia hàng rào.

Anh chồng đi rồi tôi mon men tới cửa chính nằm. Đợi mãi. Hình như cô chủ ngủ quên. Mà tôi cũng ngủ được, nhờ vậy mà đỡ đói. Lúc tôi lơ mơ tỉnh dậy, ngửi thấy mùi cá. Đúng hơn là mùi cá đánh thức tôi dậy. Ở đây phải mở ngoặc một chút: Vợ chồng họ ăn chay. Đồ mặn là mua về cho thằng cu học lớp 9. Mở ngoặc thêm: Chị nó vừa mới học xong đại học, theo về quê chồng tháng trước. Dĩa cơm ở ngay bên cạnh. Tôi không cần nhìn ngó, dựng dậy ăn sạch không nhai nhiếp. Vừa xong liền bị đuổi. Té ra cô chủ đứng ở bếp nhìn tôi ăn từ đầu chí cuối. Hơi giật mình. Tôi đi guốc trong bụng cô mà. Khoan thai, lâng lâng tôi bước.

Thằng cháu đích tôn của ông già đã mất vẫn chứng nào tật ấy. Vẫn đêm đêm lùng sục bắt con này con nọ về tụ tập ăn uống. Trong làng mất nhiều nhất là mèo. Có bữa tôi lò dò về lại bếp xưa, nơi ông già trước thường cho tôi nằm bên chống rét, thấy một con mèo bị chúng siết cổ bằng sợi dây cao su. Mèo co rúm, khạc khạc độ vài phút thì chết, thẳng dần người ra. Tôi mặt tái, phi thẳng vào bụi cây nằm thở, run bắn. Đó là con mèo của mụ già nhà ngay phía sau. Hai hôm sau mụ chính thức lên tiếng với xóm làng về sự mất tích của con mèo.

Rồi cũng qua. Mặt của mấy thằng thanh niên ấy như củ hành, cứ mỗi bận bị chửi xa gần là chúng bóc một lớp, lại như tinh tươm. Một chiều nọ tôi đang ngồi trước hiên nhà chủ tạm, thằng cháu đích tôn ấy miệng huýt sáo ngoắt tôi. Tôi chạy vụt ra vui mừng, chợt rùng mình khựng lại. Trên tay của thằng cháu đích tôn là hai mầm măng mới bẻ, đó là thành phần tất yếu của nồi thịt tươi hoặc xáo cầy. Khuôn mặt gớm ghiếc trước giờ tắt thở của con mèo lại hiện lên sáng rõ. Cụp đuôi quay lui, tôi phải chấm dứt ngay mối quan hệ này.

Dường như vợ chồng chủ tạm đêm ấy bàn nhau trả tiền mua tôi để họ công khai sở hữu. Cô vợ bảo không khéo sinh chuyện… Dạo ông già còn sống, cô qua mua mấy trái mãng cầu, thằng cháu thấy tỏ vẻ không vừa lòng. Anh chồng gật khiến tôi hết sức lo ngại. Nuôi chó cứ nhốt như nhốt tù may ra giữ được, còn không sớm muộn cũng bị bắt làm thịt. Thôi cứ cho nó ăn hàng bữa, chết sống tùy vào duyên nghiệp mạng số của nó. Hai vợ chồng nhất trí vậy.

Hôm đó tôi buồn rượi, cụp đuôi mất hồn. Gặp mấy đứa bạn trong xóm tôi nhăn răng gầm gừ, mắt đỏ ngầu. Cuốc bộ mỏi chân tôi lại về chỗ cũ, thấy mẹ ngồi tư lự trước ngôi nhà vắng chủ. Chính ông già xưa kia xin mẹ tôi ở đâu về nuôi nấng. Bốn lứa rồi, có đến vài chục đứa con bây giờ chỉ còn ba! Mẹ dường như vô lo. Dẫu gì người ta cũng không làm thịt mẹ, mẹ sẽ được sống đến già đến chết, không bị nện dùi cui vào đầu hay trói quặp khuỷu tay chọc tiết. Tôi từng thấy cảnh đó và sủa lên điên dại. Chó cả xóm đồng thanh sủa váng óc, chạy tứ tán như sắp động đất. Tại sao chúng tôi sống trong nhà họ, được họ vuốt ve xem như một thành viên; chúng tôi chỉ ăn chút cơm thừa canh cặn của họ, nơm nớp thức đêm canh trộm; mỗi khi gia chủ có chuyện, như bận ông già mất, cả mẹ tôi và anh em tôi không màng đến cơm cháo… vậy mà chính họ lại giết thịt chúng tôi?! Đầu óc tôi ngu muội đâu trả lời được câu hỏi ấy. Và nữa, tại sao mẹ tôi lại ruồng bỏ chúng tôi? Mẹ giành phần cơm của con? Tại sao mẹ thản nhiên trước cơn đói của tôi? Nếu như không có vợ chồng chủ tạm bây giờ, tôi đã chết vì đói trước mặt mẹ. Sau này lỡ tôi có con, tôi có như mẹ bây giờ? Tôi sợ mình sẽ như vậy lắm. Hay đối với loài chó, cứ đến ngưỡng ấy, tình ruột thịt tự khắc phân rã, hoang hóa xóa mờ tất cả những lằn ranh luân lý?

Đời tôi thật buồn. Vậy mà còn biết bao đứa buồn hơn. Cái bữa liều mình như chẳng có chạy vào nhà mụ T. ngoạm hai miếng xíu quách nhai mỏi hàm, tôi tủi nhục vô cùng. Tự hỏi sao lũ chó phốc của mụ không phải canh cửa giữ nhà lại được tắm rửa sạch tưng và ăn sung mặc sướng đến vậy. Nhưng bây giờ tôi đã tỉnh ngộ. Mấy con chó kia khác chi tử tù. Nhìn "người ta" nhoi mắt ra đường sủa khan, nhìn người ta cố chèn cửa lách mình ra mới biết quý tiếc cuộc sống tự do. Từ lúc đẻ ra đến nay tôi chưa thấy chúng được nhìn ánh sáng mặt trời bao giờ. Chúng được tắm nước sạch và xà phòng thơm song chưa bao giờ được tắm nắng. "Người ta" đêm ấy gặp tôi, thấm cảnh tù ngục đã muốn chạy theo tôi, nhưng rồi "người ta" vẫn theo tiếng gọi của chủ mà quay đầu… Và chính "người ta", trong nỗi bức bí tột cùng đã điên đảo cuồng dại, khởi nguồn bằng một tiếng kêu. Tôi nghe, ngỡ mình mẩy rụng trụi lông. Không hẳn tiếng kêu. Tiếng sủa thì dứt khoát cũng không. Mà là tiếng tru! "Người ta" tru lên trong tuyệt vọng. Bao người ngang qua đều ngó vô lắc đầu. Mụ T. cũng lần đầu tiên đối diện với tình cảnh này. Mụ chưa cần xem bói cũng biết chó nuôi trong nhà mà tru là gở lắm. Ông chồng mụ một hai vứt con chó ra ngoài. Vứt con chó ra ngoài! Mụ cố giữ "người ta" trong nhà thêm một ngày.

Đêm, tôi nghe tiếng cánh cổng họ mở, thằng con mụ T. xách "người ta" trong tư thế thượt dài ra để ngoài bụi phía trước nhà. Không phải họ vứt. Họ có lót cho "người ta" một chỗ nằm. Nghĩa là họ đợi cho "người ta" chết qua đêm ở ngoài trời... Nửa đêm tôi lân la tới gần. "Người ta" vẫn thở, mắt mở. Tôi ngồi đó một chặp, ngồi xổm, mắt nhìn về phía con trăng đang rải vàng xuống nghĩa địa gia tộc phía sau nhà mụ T. vài chục thước. Có điều gì đó quyến rũ tôi bước tới. Tiếng động phía sau. Thật ngạc nhiên, "người ta" đã đứng dậy, cái dáng dẹo dọ ấy còn khẽ rũ mình, rồi bước. Tôi bước chậm bên "người ta". Đến trước một ngôi mộ có mái che bia, tôi ngồi xuống, "người ta" nhếch mép ư lên tiếng nhỏ và cùng nằm. Trời đã sang thu, hơi lạnh. Tôi nằm bên ủ ấm.

Quãng mờ sáng tôi mở mắt, thì thấy "người ta" đã thức, nhìn tôi trìu mến. "Người ta" liếm vào vết thương đã lành của tôi. Gió lạnh. Tôi lim dim. "Người ta" khỏe hơn hồi đêm. Tôi lo: Nếu khỏe "người ta" sẽ về lại với chủ... Gần sáng, lâm râm mưa. Thoảng tiếng gọi của mụ T., "người ta" vươn cổ lắng nghe, toan lao ra theo phản xạ. Tôi sợ hãi nhìn "người ta", "người ta" nhìn tôi, nhìn trời xám ngoét. Mưa to hơn. Chừng trưa, tôi thêm lo. Nếu "người ta" không về lấy gì ăn. Nếu tôi cứ ở đây cũng đói mà chết mất. "Người ta" lại nằm sau một hồi lâu nhìn trời. Mái che tấm bia trước mộ đã trở thành ngôi nhà lý tưởng của hai chúng tôi. Mây mưa giăng kín. Xóm im lìm. Quay lại thấy "người ta" đã ngủ, tôi chạy về nhà chủ tạm. Họ vẫn đổ cơm ra dĩa như thường lệ. Tôi cúi cổ nhai. "Người ta" sẽ ăn gì? Nhon nhen ăn… lưỡi tôi đụng phải xương. Mừng, tôi ăn hết chỗ cơm rồi cắp khoanh xương về. Chút thức ăn ít ỏi, "người ta" dậy nhai hết trơn rồi đưa lưỡi ra hứng nước mưa. Chúng tôi lại nằm bên nhau (...).

Về chiều mưa ngớt, tôi thấy mụ T. vạch bụi cây gọi hoài. "Người ta" có lẽ cũng nghe, vẫn nằm im bên tôi. Tôi cố không nhúc nhích. Màn đêm bủa vây. Tôi lại chạy về chủ tạm kiếm ăn cho cả hai. Lần này không có xương, chỉ có đầu cá mặn hoắc. Không chê mặn, "người ta" liếm láp, ăn từng chút một. Về khuya trời sáng hơn. Hình như có trăng, ủ trong mây xám đặc. Tôi nhìn hoài vầng trăng như mong cầu được cứu vớt. Ngày mai, ngày kia chúng tôi sẽ ra sao. Vợ chồng mụ T. lại bấm đèn tìm "người ta" trong mưa. "Người ta" vẫn nằm im. "Người ta" nóng hập.

Vẫn tiếng gọi của vợ chồng mụ T. "Người ta" có lẽ thương tôi lẻ loi nên mới "phản chủ"? Tôi không thích mụ T. Giá mụ nuôi chó mà vẫn thả cho chúng chạy nhảy chơi bời như tôi? Giá mụ đừng nhốt "người ta" lại như nhốt tù? Tiếng kêu của mụ T. cứ vang vang trong đầu. Tôi ân hận… tôi bèn cào chân vào "người ta"… Nhưng, "người ta" hoàn toàn bất động. "Người ta" không còn nghe được ai gọi nữa! "Người ta" đã rời bỏ tôi. "Người ta" đã không nói một lời chia tay với tôi và đi thật xa rồi. "Người ta" cắn vào tim tôi vết thương cắt cứa rồi biến khỏi cuộc đời này. Tôi nức lên. Tru lên. Trời ơi, bây giờ tôi mới hiểu nghĩa tiếng tru của "người ta" hôm trước. Không phải một căn bệnh, không phải điềm báo gì đâu, chỉ là nỗi đau vỡ ra… Trăng đã vén được thêm lớp mây, đủ soi thể xác gầy mòn của "người ta". Tôi đau đớn tận cùng. Ngứa chân kinh khủng, và tôi đào bới ngay chỗ mình đứng, trước tấm bia mộ lớn. Tôi đào một mạch không nghỉ cho tới khi lộ ra cái hố. Kéo "người ta" nằm xuống rồi, mây lại vùi trăng đi, tôi nặng nhọc cào từng vốc đất đắp mặt…

Nằm ngay trên nắm đất vừa lấp ấy…rồi tôi lại gượng dậy lang thang quanh xóm. Một con chó nhỏ xíu thằng cháu đích tôn mới xin đâu về mang cái dây xích to đùng lăng xăng xoắn xuýt chạy ra mừng vui khôn xiết với tôi. Thương quá, nó đâu biết tương lai sẽ là bản sao sự đói khổ cùng cực của tôi dạo trước. Tôi không muốn làm thân với nó. Tôi thấm thía vì sao vợ chồng chủ tạm không muốn làm thân với mình. Tôi hiểu mất "người ta", nỗi đau ấy còn hơn cắt ruột, còn hơn bị trói lại chọc tiết… Quay lui trở về với chủ tạm, tôi lặng lẽ nằm xuống bên hiên không ai hay. Họ đang trò chuyện. Lan man một hồi, cô vợ bảo đã đặt vấn đề trả tiền mua lại tôi nhưng thằng cháu đích tôn lắc đầu bảo để dành làm món cầy đêm chung kết World Cup! Tôi như bị gậy thúc vào tim. Quãng thời gian từ nay đến đó chưa bao giờ là đủ để con người biết tôi đang mang thai

N.N.

Các tin khác

Đóa hoa nở trong cơn mưa

Đóa hoa nở trong cơn mưa

Mỗi lần Vân đỡ anh dậy, anh vòng tay qua cái cổ ấm áp của cô và áp gò má anh vào má cô. Những lúc như thế, anh cảm thấy run rẩy, anh cảm thấy sức nặng của tấm vải bạt đắp lên chân nặng cả nghìn cân. Anh muốn đứng dậy, bế bổng cô chạy ra khỏi cái cửa hang chết tiệt kia, ra đứng giữa đất trời mà hét lên, mà quay cô mòng mòng như cánh quạt của mấy con “diều hâu” tuần tiễu trên bầu trời.

Một cú đá chết bảy mạng

Một cú đá chết bảy mạng

Ở Vương Gia Trang, có một người đàn ông trung niên tên là A Lương, 42 tuổi. Anh ta là người trung thực, chăm chỉ và sống giản dị. Anh trồng vài mẫu ngô và khoai lang trên sườn đồi phía sau làng và cách vài ngày lại đi nhổ cỏ cho ngô và khoai lang.

Chuyện con nhà lính

Chuyện con nhà lính

Vài ba hành khách khác định ngồi ở chiếc ghế cạnh người lính, nhưng họ nhìn thấy thông báo và bỏ đi. Khi máy bay gần kín chỗ, người lính thấy một cô gái rất xinh đẹp vội vã bước vào khoang máy bay nên anh ta nhanh chóng gỡ tờ thông báo khỏi chiếc ghế trống bên cạnh. Bằng cách ấy, anh lính nọ đã có được một cô gái đồng hành cùng mình trên suốt chặng bay.

Kẻ điên xem hát

Kẻ điên xem hát

Vào thời nhà Thanh, có một kẻ điên sống ở vùng Giang Nam rất mê xem hát kịch. Mỗi khi đi xem hát, hắn thường vừa xem vừa điên điên khùng khùng kéo ống quần của người khác lên nhìn, miệng còn ngâm nga điệu hát: “Chân vàng nhỏ, chân bạc xinh, kéo quần lên cho mình nhìn ngắm…”.

Đi qua dòng sông

Đi qua dòng sông

Giọng chị mơ hồ và hoảng hốt. Tôi ngước nhìn chị. Dưới ánh trăng, chị đẹp một cách lộng lẫy, như một bức ảnh nàng tiên cá tôi từng được thấy trên tờ họa báo. Làn tóc đen xõa xuống, đôi mắt to tròn lấp lánh. "Chị khổ lắm Hoàng ơi". Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai chị: "Ta về thôi chị". Đêm ấy, bu tôi không về vì dì tôi trở bệnh.

Mây trời Huổi Chỏn

Phía ngoài, một khẩu lệnh đanh gọn. Ngay lập tức mũi đột phá gồm ba chiến sỹ cơ động lao thẳng về phía các đối tượng đang chặn đầu tiên, đẩy bật chúng về phía sau. Cực nhanh sau đó, từng tốp hai đồng chí lao vào đánh gục, tước vũ khí, khóa tay các đối tượng. Mấy chục đối tượng hàng sau, hung hãn cầm gậy gộc, vũ khí lao lên nhưng…  hự…ụp…  chúng hoảng loạn quay đầu bỏ chạy.

Vụ cháy hy hữu

Vụ cháy hy hữu

Có một người tên là Hồ Lai, lúc nào cũng nhàn rỗi chẳng có việc gì làm. Anh ta lười biếng và không làm bất cứ công việc nào cho tử tế. Bị gia đình thúc giục, anh ta vay mượn tiền và gom góp đủ để mua một chiếc xe máy cũ rồi bắt đầu buôn bán rau củ.

Không dễ dàng gì

Không dễ dàng gì

A Quý là người bán rau ngoài chợ. Hôm ấy vừa chập tối, anh thu dọn gian hàng đi về thì thấy mấy người hàng xóm đang đứng vây quanh một con chó bàn tán xôn xao.

Chuyện xảy ra trên tàu

Chuyện xảy ra trên tàu

Đoàn tàu khách địa phương dừng lại ở ga để đón tiễn hành khách. Trong số hành khách vừa lên tàu có một cô gái trẻ mặc bộ quần áo rất đẹp và hợp thời trang đang len qua các toa để tìm chỗ ngồi.

Những nẻo đường hoa

Những nẻo đường hoa

Bố làm quen với mẹ từ đó, mẹ cũng mở lòng nghe bố kể chuyện chiến tranh, bố kể cho mẹ nghe cả câu chuyện tình buồn của bố và cô Thảo. Cô ấy hứa sẽ đợi bố đi chiến trận trở về, chiếc khăn tay cô ấy tặng bố còn thêu hai chữ "đợi chờ" bằng sợi chỉ màu đỏ chói. Nhưng, năm 1973, cô ấy gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, chiến tranh không cướp được bố, nhưng đã cướp mất cô Thảo trong một lần tải đạn ra chiến trường.

Mùa hoa trắng không trở lại

Mùa hoa trắng không trở lại

Em đến từ khi nào. Cánh tay em quấn chặt, vai tôi nóng rực, hơi thở dồn dập, đôi má ấm mềm như tan chảy, thấm dần vào từng mạch máu. Bờ môi căng mọng khẽ chạm, run run hòa vào nhịp tim thổn thức. Nụ hôn nồng nàn đưa tôi lạc giữa cánh đồng tam giác mạch phảng phất hương hoa trong gió núi.

Sương bên đá núi

Sương bên đá núi

Pháo nghe tiếng "rầm", vội cầm đèn pin chạy ra. Dưới ánh sáng vàng vọt, lão trưởng bản lồm cồm bò dậy, bộ áo chàm rách toạc một mảng ở vai, máu rỉ ra thẫm cả vạt vải. Mắt lão cứ trợn ngược nhìn vào vách đá tối om, mồm lầm bầm: "Nó phạt tao... Con ma dốc nó phạt tao thật rồi, Pháo ơi...".

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Tiếng huýt sáo kỳ diệu

Trương Tiểu Dũng bị gãy chân nên phải nhập viện. Trong thời gian này, do bị bó bột nên anh không thể đi lại, may sao trong phòng bệnh có cụ Trần cũng bị thương ở chân nên có thể cùng anh trò chuyện cho đỡ buồn.

Kẻ cắp siêu cấp

Kẻ cắp siêu cấp

Hắc Tam là kẻ cắp có uy tín nhất trong giới trộm cắp, kinh nghiệm “làm việc” nhiều năm đã giúp hắn phát triển được thị lực nhạy bén và khả năng phán đoán phi thường, một khi đã bị hắn nhắm tới thì không một “con mồi” nào có thể trốn thoát.

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Làm bảo vệ cũng cần có kỹ năng

Đinh Tiểu Cương nhận bộ đồng phục bảo vệ, mặc vào và bắt đầu làm bảo vệ. Công việc của Đinh Tiểu Cương không mấy bận rộn, chỉ có việc đi dạo quanh khu phố. Cảm thấy bồn chồn, anh quyết định kiểm tra camera an ninh để xem ai đã lấy trộm cục pin của mình. Tuy nhiên, khi vào phòng giám sát, anh phát hiện chỉ có năm màn hình hiển thị hình ảnh; những màn hình còn lại đều bị hỏng.

Cây đào phai bên bờ rào đá

Cây đào phai bên bờ rào đá

Xóm nhỏ im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu trên biển, người không rõ tung tích. Nghe đâu hồi đó A Châu cũng trên chuyến tàu ấy...

Trứng gà hàng xóm

Trứng gà hàng xóm

Ở một thị trấn yên tĩnh, có ông Vương và ông Lý là hàng xóm sát vách nhau. Hai nhà chỉ có một bức tường đất thấp ngăn cách với nhau, ngày qua ngày lại, quan hệ khá thân thiết.

Thảm kịch hôn nhân

Thảm kịch hôn nhân

Rồi cô gái trẻ cười hồn nhiên, còn Della lúc đó chỉ nghĩ đó là những chuyện phù phiếm. Vì Bishop quá đẹp còn Elise quá quyến rũ, chỉ những kẻ hẹp hòi mới thêu dệt nên chuyện ngoại tình. Bà đã từng tin như thế. Nhưng giờ đây bà hối hận vì đã tiễn Jakie đi.

Để người lớn làm việc

Để người lớn làm việc

Mùa gặt lúa mì trong mắt người dân thôn Hàm Cóc chẳng khác nào một cực hình. Không khí hầm hập, bụi bặm bám đầy lỗ chân lông, người ngợm lúc nào cũng dấp dính, ngứa ngáy. Thế nhưng, giữa cái làng ấy lại có một “dị nhân” luôn mong ngóng mùa gặt như trẻ con mong mẹ đi chợ về, đó chính là ông Ngô Lùn.

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ở phía núi mù sương

Căn nhà ấy luôn sáng đèn, ấm lửa những lúc chiều đông ảm đạm của miền rừng heo hút. Đó là nhà của vợ chồng thầy giáo Nam và cô Hồng, nhưng chỉ có cô dạy ở trường này, còn thầy Nam phải dạy xa hơn một chút, tận một bản sâu hơn của huyện miền núi. Cả hai thầy cô đều học cùng trường sư phạm và họ đã yêu nhau từ đó.