He hé những chuyện sản xuất vaccine có một không hai của Việt Nam

GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên, một trong những chuyên gia sản xuất vaccine hàng đầu của Việt Nam xúc động kể lại những ngày tháng điều chế vaccine ở một phòng thí nghiệm có một không hai, được dựng tạm giữa chiến trường khói lửa.

"Tôi đóng quân ở một đơn vị có mật danh là K15 tại Quảng Nam. Khi tôi đến, cơ quan vừa mới chuyển nơi đóng quân do vị trí cũ bị máy bay Mỹ ném bom và rải chất độc hóa học. Nói là cơ quan nhưng chỉ là ngôi nhà lá tạm bợ giữa bốn bề rừng núi. Giữa chiến trường thiếu thốn và khắc nghiệt, tôi quyết tâm dựng phòng thí nghiệm…." - GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên, một trong những chuyên gia sản xuất vaccine hàng đầu của Việt Nam xúc động kể lại những ngày tháng điều chế vaccine ở một phòng thí nghiệm có một không hai, được dựng tạm giữa chiến trường khói lửa. Những câu chuyện bà kể giúp tôi hiểu rằng tại sao đến tận bây giờ, ở tuổi 81, bà vẫn lặng lẽ miệt mài gắn bó với "tình yêu vaccine" của mình đến thế.

- Phóng viên: Thưa bà, cơ duyên nào đã khiến những người như bà thực hiện công việc điều chế vaccine trong một hoàn cảnh đặc biệt đến như thế?

- Giáo sư Huỳnh Thị Phương Liên: (Nghĩ ngợi...) Chiến tranh mà! Khi tôi học năm cuối chuyên khoa Vi sinh ở Trường Đại học Y khoa Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch đã nói với chúng tôi rằng, học chuyên khoa vi sinh thì khi vào chiến trường phải sản xuất được vaccine tả, thương hàn, đậu mùa. Thế nên năm 1965, chúng tôi tốt nghiệp đại học thì 1966 lên đường đi B. Cả lớp tôi có 45 người đi B, chỉ có 2 người thuộc chuyên khoa Vi sinh. Sau hai tháng rưỡi hành quân vượt Trường Sơn, tôi vào đến huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam, chính thức bắt tay vào nhiệm vụ.

- Đấy chắc chắn là ký ức đáng nhớ của đời người?

- Những trải nghiệm tuổi trẻ ở chiến trường Khu 5 cho đến bây giờ vẫn sống động trong tâm trí tôi. Giữa chiến trường thiếu thốn và khắc nghiệt, tôi quyết tâm dựng phòng thí nghiệm. Đó là một căn phòng vuông vắn, rộng khoảng hơn 20m2, được dán lớp nilon trắng xung quanh, bên trên căng vải dù màu trắng. Bàn ghế bằng tre nứa cũng được bọc nilon trắng. Tự tôi thiết kế, bài trí căn phòng đó. Một góc tôi đặt lò hấp sấy khử khuẩn đun bằng bếp Hoàng Cầm. Góc kia tôi tủ ấm chạy bằng đèn dầu hoả tự tạo từ gỗ để nuôi cấy vi khuẩn. Nhiều anh chị em khen sao tôi lại có thể dựng được phòng thí nghiệm đẹp và khoa học đến thế.

Sau đó, nguyên liệu hoá chất phục vụ sản xuất vaccine từ ngoài Bắc đưa vào, tôi mất 10 ngày đi bộ tới điểm nhận, rồi mất 10 ngày nữa vận chuyển về đơn vị. Có phòng thí nghiệm, có hoá chất, có kính hiển vi, tôi bắt tay vào sản xuất ngay. Vaccine làm ra được đóng vào ống tiêm có dãn nhãn, đủ cung cấp cho đồng bào vùng ven Quảng Nam, Quãng Ngãi.

- Với một người con gái, sống và làm việc trong hoàn cảnh đó chắc chắn không đơn giản?

- Sau một thời gian ở chiến trường, sức khoẻ tôi rất yếu, nên được trở ra Hà Nội để chữa bệnh. Sau một thời gian, sức khoẻ ổn hơn, tôi học tiếng Anh tập trung ở Trường Cán bộ y tế và là một trong năm người được cử đi thực tập sinh ở Đức. Năm 1976 trở về trong niềm vui đất nước thống nhất, băn khoăn lớn nhất của tôi là nên trở vào Nam hay ở Hà Nội. Ba tôi nói: "Nếu con muốn làm cán bộ quản lý thì vào Nam. Còn muốn làm khoa học thì ở lại Hà Nội". Và tôi chọn ở lại Hà Nội để được làm khoa học ở Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.

- Bà cũng chính là người đầu tiên ở Việt Nam sản xuất ra được vaccine xuất khẩu, phải không ạ? 

- Chuyện bắt đầu thế này: Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) gây kinh hoàng cho cả thế giới. Ở nước ta thời kì đó, chủ yếu trẻ em từ 1 đến 5 tuổi mắc bệnh. Bây giờ ngồi nói chuyện, nhớ về thời gian đó, tôi vẫn thấy ám ảnh. VNNB đã trở thành nỗi lo lắng, sợ hãi của các bà mẹ có con nhỏ. Ở Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Bạch Mai, trẻ nhỏ mắc bệnh VNNB rất đông. Rất nhiều cháu bị di chứng ngớ ngẩn, liệt toàn thân. Nhìn những đứa trẻ bé tí đã phải tập phục hồi chức năng,  thương tâm vô cùng.

 Cho nên năm 1989 tôi và một đồng nghiệp được cử sang Nhật Bản một tháng để tiếp nhận công nghệ sản xuất vaccine VNNB thế hệ 1 và quy trình kiểm định chất lượng vaccine. Một tháng ngắn ngủi tưởng chỉ có thể cưỡi ngựa xem hoa, nhưng tôi quyết tâm tận dụng hết thời gian để tiếp nhận, ghi chép tỉ mỉ và không bỏ sót bất cứ điều gì. Sau một tháng chúng tôi mang được chủng virus và một số hoá chất thiết yếu về Việt Nam, nỗ lực ngày đêm để sản xuất vaccine dựa trên não chuột.

Chỉ sau một tháng mà làm được nhiều điều như vậy ạ?

- Vậy nên các chuyên gia Nhật Bản đến Việt Nam đã vô cùng bất ngờ. Họ hỏi chúng tôi có trực đêm không, tôi liền mời họ đến phòng thí nghiệm vào buổi tối. Họ đến và thấy chúng tôi thức trắng đêm. Sở dĩ chúng tôi phải thức vì vào ban đêm tỉ lệ thu chuột liệt (chuột nhiễm virus) để lấy não khá cao, lên đến 70% trong khi ban ngày chỉ thu được 30%. Khi sản xuất ra được vaccine, chúng tôi đã gửi sang Nhật kiểm định. Thật bất ngờ vaccine được đánh giá chất lượng tốt. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi học công nghệ nhanh và làm được vaccine đạt yêu cầu. Nói thật là thời gian đó chẳng riêng gì Việt Nam, nhiều nước cũng sang Nhật Bản để học tập công nghệ sản xuất vaccine nhưng không phải nước nào cũng sản xuất được.

- Việc thử nghiệm lâm sàng vaccine thời kỳ đó có khác bây giờ nhiều không ạ?

- Năm 1992, Bộ Y tế cho phép chúng tôi thử nghiệm vaccine đúng vào đỉnh dịch VNNB ở Việt Nam. Lúc đó tôi rất lo lắng. Những cháu nào bị viêm não giai đoạn ủ bệnh mà  tiêm thử nghiệm vaccine, chưa được đáp ứng kháng thể thì bệnh vẫn phát ra. Lúc đó rất có thể đi đến kết luận nguyên nhân phát bệnh là tại vaccine. Tuy vậy chúng tôi vẫn quyết định vượt qua thử thách.

Khâu tuyển chọn các em bé tham gia thử nghiệm ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh được tiến hành thận trọng. Có người đồng ý cho con tiêm thử để được bảo vệ. Nhưng cũng có người gay gắt, không hợp tác, cho rằng chúng tôi lấy con họ ra làm thí nghiệm. Cả nhóm phải giải thích, tuyên truyền, vận động. Cuối cũng chọn được 200 cháu  tiêm thử nghiệm. Kết quả sau đó rất tốt, hiệu giá kháng thể trung hoà cao, đáp ứng kháng thể là 100%. Và phải đến lúc đó, chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Và phải nói là niềm vui vỡ oà khi chúng ta đã tự sản xuất được vaccine.

Từ  năm 1997, vaccine VNNB của chúng ta được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, góp phần làm giảm tỉ lệ mắc VNNB, giảm tỉ lệ chết và di chứng thần kinh, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Vui hơn nữa, có đến 5.430.000 liều vaccine do chúng tôi sản xuất đã xuất khẩu được sang Ấn Độ. Đây cũng là vaccine Việt Nam đầu tiên được xuất khẩu ra nước ngoài.

- Đã bao giờ người thân của bà cũng chính là những tình nguyện viên thử nghiệm vaccine không?

- Có chứ. Vaccine sởi khi nhập từ nước ngoài về cần phải thử trên người, xem đáp ứng kháng thể của trẻ em Việt Nam là bao nhiêu. Tôi đã cho con gái tôi khi đó đang học ở Trường Mầm non tham gia thử nghiệm.

- Lúc ấy chồng bà có nói gì không?

- Khi đó chồng tôi là bộ đội, thường xuyên xa nhà. Khi hai con còn nhỏ, ngày nghỉ tôi phải gửi con cho vợ chồng cậu em trai trông giúp. Có lần con tôi sốt cao và lên cơn co giật, khi người nhà đến cơ quan báo tin, tôi cuống cuồng về đưa con đi cấp cứu. Khi con đỡ hơn, tôi quay lại cơ quan làm việc. Từ năm 1987 tôi làm Trưởng khoa Virus, quản lý 11 phòng thí nghiệm nên càng thêm bận bịu. Cũng may là tôi ở ngay phố Lê Thánh Tông, rất gần cơ quan nên đi lại đỡ mất thời gian.

- Xin cảm ơn bà! 

Đã vào phòng thí nghiệm, phải quên hết những chuyện bên ngoài

"Tính tôi tỉ mỉ, kĩ càng. Lúc đi học hay khi nghiên cứu tôi đều ghi chép đầy đủ, khoa học. Điều đó giúp ích cho tôi rất nhiều trong công việc. Trong cả thời chiến và thời bình, việc nghiên cứu và sản xuất vaccine chưa bao giờ dễ dàng. Khâu nào cũng phải đảm bảo vô trùng tuyệt đối. Chỉ sơ sảy một chút là hỏng hết cả loạt vaccine. Khi vào phòng thí nghiệm là phải tập trung tư tưởng, quên hết những chuyện bên ngoài". 

GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên

Huyền Châm (thực hiện)

Các tin khác

Việc gì có lợi cho người dân châu Phi thì tôi quyết tâm làm

Việc gì có lợi cho người dân châu Phi thì tôi quyết tâm làm

Là một trong 2 sĩ quan đầu tiên đặt chân tới Nam Sudan tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) vào năm 2014, cũng là vị chỉ huy trưởng đầu tiên đưa đơn vị công binh sang làm nhiệm vụ tại Abyei năm 2022, Đại tá Mạc Đức Trọng là người từng trải ở châu Phi. Những trải nghiệm đáng nhớ và đáng quý vẫn đang song hành cùng ông trong công việc tại Cục GGHB Việt Nam.

“Chúng ta chỉ là mảnh ván nhỏ trên cây cầu nối quá khứ vào tương lai”

“Chúng ta chỉ là mảnh ván nhỏ trên cây cầu nối quá khứ vào tương lai”

Ở tuổi 87, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lâm Biền vẫn đến cơ quan làm việc mỗi ngày. Chầm chậm từng bước nơi bậc cầu thang, phòng làm việc của ông trên tầng 2 của khu nhà kiến trúc Pháp thuộc Cục Di sản, trên phố Ngô Quyền, Hà Nội. Căn phòng nhỏ, một nửa là những giá để tài liệu cao ngất, một nửa dành cho ông. Trên bàn, quyển sách ông đang đọc dở, trang bản thảo ông đang chấp bút, nét chữ vẫn nghiêm ngắn, rắn rỏi.

Giáo sư Serge Haroche: Khoa học không thể phát triển nếu tách rời con người

Giáo sư Serge Haroche: Khoa học không thể phát triển nếu tách rời con người

Giáo sư Serge Haroche, nhà vật lý lượng tử người Pháp, từng đồng đoạt Giải Nobel năm 2012. Với ông, khoa học không phải là những phương trình khô khan, mà là một hành trình của đam mê gắn liền với những bất ngờ nối tiếp, của phong cách sống, lòng yêu nước, đạo đức và trách nhiệm.

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân: Có người gọi tôi là “cường hào ác bá”!

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân: Có người gọi tôi là “cường hào ác bá”!

Bình thản giữa búa rìu dư luận, dấn thân vào phê bình công khai, Tiến sĩ Hà Thanh Vân là cây bút cá tính mạnh, đôi khi ngược dòng. Nhưng, phía sau là một người phụ nữ nồng nhiệt, yếu mềm, với niềm tin mãnh liệt vào giá trị lõi của nghệ thuật. Trong thời đại số vội vã, chị xem văn chương như kháng thể mong manh mà bền bỉ, chống lại sự lãng quên và nông nổi; đồng thời, đối thoại với ANTG Giữa tháng - Cuối tháng về những vết thương tinh thần của một đời sống văn hóa đang chật vật để không bị cuốn trôi.

Từ Việt Nam vươn ra quốc tế

Từ Việt Nam vươn ra quốc tế

Trong định hướng phát triển thể thao thành tích cao vươn ra đấu trường thế giới, Việt Nam đã có nhiều đơn vị, bộ môn phát triển bài bản từ lâu. Một trong số đó là Boxing, môn võ có hơn 2 thập niên hình thành, phát triển và đào tạo không ít VĐV, HLV xuất sắc, với những điểm sáng nổi bật.

Nhà văn Thiên Sơn: “Chúng ta phải làm nghệ thuật bằng tình yêu máu thịt với dân tộc mình”

Nhà văn Thiên Sơn: “Chúng ta phải làm nghệ thuật bằng tình yêu máu thịt với dân tộc mình”

Nhà văn Thiên Sơn sáng tác cả thơ, truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của anh phản ánh những vấn đền nóng bỏng của đời sống đương đại được bạn đọc đón nhận. Gần đây, anh cho ra mắt các tác phẩm về đề tài lịch sử hiện đại và chiến tranh cách mạng. Anh cũng là một nhà báo quan tâm đến lĩnh vực văn học, điện ảnh.

“Thành tựu 30 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không phải tự nhiên mà có...”

“Thành tựu 30 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không phải tự nhiên mà có...”

Lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là quá trình hiếm có, là hình mẫu trong quan hệ quốc tế về hàn gắn và xây dựng quan hệ sau chiến tranh. Tròn 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2025), phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng đã có cuộc trò chuyện cùng ông Phạm Quang Vinh - nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ (11/2014 - 6/2018).

Kỷ nguyên mới phải có con người mới

Kỷ nguyên mới phải có con người mới

Đại tá, GS.TS Trình Quang Phú là nhà khoa học, nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động chính trị - xã hội; Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông, tác giả của nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cần hiểu đúng để điều trị bệnh trầm cảm

Cần hiểu đúng để điều trị bệnh trầm cảm

Trầm cảm ở tuổi vị thành niên đang là một vấn đề nóng của xã hội hiện nay. Tỷ lệ trẻ trầm cảm ngày càng gia tăng do những áp lực của thi cử, của xã hội và sự mất kết nối với trẻ.

Tôi có niềm tin và tự hào về sự phát triển của nước Việt Nam

Tôi có niềm tin và tự hào về sự phát triển của nước Việt Nam

Tôi đã nhiều lần nghe đoạn băng ghi âm sự kiện lịch sử diễn ra tại Đài Phát thanh Sài Gòn vào buổi trưa ngày 30/4/1975. Lần nào cũng dâng trào niềm hân hoan non sông liền một dải… Và tôi chợt chiêm nghiệm, trong thời khắc trọng đại đánh dấu đất nước hoàn toàn thống nhất, có 3 người giữ vai trò chủ chốt tại Đài phát thanh Sài Gòn, thì một người miền Bắc là Giáo sư Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, quê Hà Nội), một người miền Trung là Trung tá Bùi Tùng (đại diện quân Giải phóng, quê Đà Nẵng) và một người miền Nam là Đại tướng Dương Văn Minh (Tổng thống chính quyền Sài Gòn; quê Mỹ Tho, Tiền Giang, nay là tỉnh Đồng Tháp). Phải chăng, đó là sự sắp đặt thú vị của dòng chảy lịch sử luôn cháy bỏng khát vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc Việt Nam?

Tận cùng của báo chí là văn hóa - Tận cùng của văn hóa là con người

Tận cùng của báo chí là văn hóa - Tận cùng của văn hóa là con người

Nhà báo Hồ Quang Lợi là một trong những cây bút bình luận, chính luận và quốc tế sắc sảo của báo chí Việt Nam, đồng thời là một nhà lãnh đạo uy tín trong lĩnh vực báo chí, truyền thông. Ông luôn nhấn mạnh vai trò của đạo đức và nhân văn trong nghề báo, ông cho rằng “phẩm giá con người là điều quý giá nhất”. Ông tin tưởng rằng báo chí phải phục vụ con người và xã hội, đặc biệt trong thời đại công nghệ số hiện nay.

NSND Hoàng Cúc: Dù mai tận thế thì đêm nay sen vẫn gieo trồng

NSND Hoàng Cúc: Dù mai tận thế thì đêm nay sen vẫn gieo trồng

NSND Hoàng Cúc nói, chị không sống bằng những hào quang của sân khấu hay điện ảnh. Giờ đây, một buổi sớm mai thức dậy, được ngắm ánh bình minh, với chị, đó là hạnh phúc. Sự nâng niu, trân quý từng thời khắc của cuộc sống ấy khiến người đàn bà tài hoa, mỹ nhân của màn ảnh Việt một thời vẫn không ngừng sáng tạo để viết tiếp bản trường ca cuộc đời, về những ánh hào quang chưa bao giờ tàn trên mặt đất...

Cựu chiến binh Mỹ Chuck Searcy: "Tôi tự hào vì được người Việt Nam đón nhận"

Cựu chiến binh Mỹ Chuck Searcy: "Tôi tự hào vì được người Việt Nam đón nhận"

Đã ngoài 80 tuổi nhưng ông Chuck Searcy - Chủ tịch Tổ chức Cựu chiến binh vì hòa bình của Mỹ tại Việt Nam (VFP 160), vẫn dành trọn tâm huyết để hàn gắn những vết thương do chính thế hệ ông từng gây ra trên đất nước mà ông gọi là “ngôi nhà thứ hai”, nơi ông được tha thứ, được chào đón như bạn bè.

Những phút cân não giữa đống đổ nát ở Myanmar

Những phút cân não giữa đống đổ nát ở Myanmar

Chúng tôi gặp Đại tá Nguyễn Minh Khương - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Bộ Công an ngay sau khi anh cùng đoàn công tác từ Myanmar trở về. 7 ngày thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn quốc tế đã lùi lại phía sau, nhưng những giây phút nghẹt thở, căng thẳng và nỗi buồn ám ảnh khi chứng kiến những mất mát, đau thương của người dân Myanmar vẫn vẹn nguyên trong tâm trí anh và đồng đội...

Đại sứ Mexico Alejandro Negrín: “Ở Việt Nam, tôi luôn thấy bình yên”

Đại sứ Mexico Alejandro Negrín: “Ở Việt Nam, tôi luôn thấy bình yên”

Ngày 19/5/1975, Việt Nam và Mexico thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong 50 năm qua, hai nước đã có mối quan hệ bền chặt và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhân dịp này, phóng viên Chuyên đề ANTG Giữa tháng - Cuối tháng của Báo CAND đã có cuộc trò chuyện với ngài Alejandro Negrín - Đại sứ Mexico tại Việt Nam với chủ đề những thành tựu hợp tác trong suốt nửa thế kỷ qua, hướng tới những cơ hội thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa, tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Đại sứ Na Uy Hilde Solbakken: Phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và duyên dáng

Đại sứ Na Uy Hilde Solbakken: Phụ nữ Việt Nam mạnh mẽ và duyên dáng

Chúng tôi gặp Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken trong một chiều đầu xuân. Nhà ngoại giao Na Uy gây ấn tượng với phong cách thân thiện, cởi mở. Trong câu chuyện của mình, Đại sứ Hilde Solbakken chia sẻ những vấn đề chung mà cả hai quốc gia cùng quan tâm cũng như cảm nhận của cá nhân Đại sứ về con người và đất nước Việt Nam. Trong đó, bà đặc biệt ấn tượng với sự mạnh mẽ cũng như đức tính chăm chỉ của người phụ nữ Việt Nam.

Việt Nam tự hào ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới

Việt Nam tự hào ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới

Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú (TS.TTƯT) Đinh Văn Lượng là một trong những chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật lồng ngực trong lĩnh vực bệnh phổi và lao. Năm 2024, ông và Bệnh viện Phổi Trung ương thực hiện thành công 3 ca ghép phổi. Đây là một kỳ tích của ngành y tế Việt Nam nói chung và Bệnh viện Phổi Trung ương nói riêng. Từ những kết quả này, TS Lượng tin rằng, Việt Nam đã ghi tên vào bản đồ ghép phổi thế giới.

Đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

Đồng hành cùng Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói, là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản; xây dựng thành công nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.