“Người ta nói tui điên”
Đoạn sông Vu Gia ngăn đôi bờ các thôn 4, 8, 9, Nghĩa Nam, Phú Lộc thuộc xã Đại An, Đại Cường, huyện Đại Lộc. Người dân bên kia sông muốn giao thương, học hành đều phải qua bên này bằng đò, cầu tre. Còn nông dân phía bên này muốn sang sông làm hoa màu bên kia cũng lụy đò và cây cầu không biết khi nào sẽ gãy.
Ông Ngô Văn Năm (48 tuổi, thôn Nghĩa Nam) kể lại: “Chúng tôi bên này qua bên kia làm đồng, đi bằng đò thì phải chờ đúng giờ giấc, mỗi ngày đò đưa hơn chục chuyến, muốn làm thêm công cũng khó. Còn đi cầu tre thì vô cùng nguy hiểm, gánh giống, gánh phân sang sông cứ sợ cầu mục gãy bất ngờ. Biết bao nhiêu vụ tai nạn thương tiếc đã xảy ra”.
Học sinh đến trường cũng chịu chung cảnh ngộ. Chờ đò thì muộn học, cầu tre thì một năm bị cuốn trôi mấy lần, đi đường vòng lại xa. Con đường học tập gặp bao khó khăn. Đến mùa nước dâng, cha mẹ các em phải chống đò đưa con đi học, rồi chờ đưa con về. Nhiều em phải gửi xe đạp nhà người dân bên này sông, chịu khó đi bộ để hạn chế nguy hiểm hơn.
Ngay chính bản thân anh Dũng cũng từng chứng kiến cảnh hai vợ chồng chở ớt sang sông. Người vợ vừa bước qua cầu thì cầu gãy, người chồng theo sau rơi xuống sông với toàn bộ số ớt, hồi lâu mới thấy nổi lên. Chở người bị nạn đi cấp cứu trở về, anh Dũng trăn trở mãi, làm thế nào để cho dân được một cây cầu an toàn hơn, cho bà con mình bớt được cái khổ.
Nói về sự kiện làm cầu của anh Dũng, anh Võ Đức, một người bạn chí cốt của anh cho hay: “Hồi mới nghe Dũng nói, anh bảo hén (nó-pv) khùng, nhà thì nghèo xơ xác, cầu thì đâu phải dễ làm, ai bày hén kỹ thuật, rồi tiền đâu hén làm. Rứa mà hén làm thiệt, bữa nay thấy vậy tui cũng mừng”. Không chỉ anh Đức, hầu như ai hay chuyện anh Dũng định làm cầu đều cười: “Thằng này điên”.
Người ta nói anh điên cũng đúng. Ngôi nhà anh đang sống chẳng có gì đáng giá, mái tôn chỗ lủng chỗ lành. Đến mùa mưa, nhà dột, nền nhà bằng đất bùn đọng nước lình sình. Cái giường kê hết chỗ này sang chỗ kia cũng không tránh được nước mưa, phải sang ngủ ké bên nhà thờ tộc. Công việc sửa xe gắn máy của anh cũng không mấy ổn định. Chuyện vay gạo, ăn mì tôm qua ngày diễn ra như cơm bữa. Thế thì tiền đâu mà anh đòi làm cầu cho dân? Nếu có tiền thì cớ chi không trang trải cuộc sống, lại mang ra làm việc “vác tù và hàng tổng”?
Bao nhiêu người phân tích, cho là anh gàn, gia đình cũng bảo anh đang đùa. Nhưng anh Dũng làm thật. Anh bán hết số vàng tích cóp trong hơn hai chục năm được gần 300 triệu đồng. Số tiền này anh dự định xây lại căn nhà, mua cái xe đàng hoàng hơn, nhưng rồi anh đổ hết số vốn đó cho cây cầu quê anh. Anh nói: “Nhà tui nát vậy đó, nhưng tui ở có một mình sao cũng được, sống sao cũng qua được ngày, ăn gì cũng qua được bữa, nhưng các em học sinh và nông dân còn thiệt thòi nhiều nên nhà lủng vẫn cứ phải xây cầu”.
Ăn mì tôm để làm cầu
Anh Dũng vẽ sơ đồ chi tiết mô hình cây cầu, tính toán nguyên liệu trong số tiền cho phép nhưng vẫn đảm bảo an toàn đúng kỹ thuật. Được lãnh đạo xã chấp thuận, anh bắt tay vào làm ngay. Liên hệ các mối quen biết trong nghề thu mua phế liệu, anh ra tận thành phố Đà Nẵng gom thùng phuy.
Để có đủ 500 thùng phuy đáp ứng được độ an toàn, anh phải một mình chạy xe mấy chục chuyến chở về. Sau đó, anh đến tận xưởng chọn những thanh sắt, inox, ván gỗ đưa về. Phải gần ba tháng anh mới mua đủ vật liệu cần thiết. Anh nói: “Tiền ít thật, nhưng cầu thì phải tử tế, làm qua loa bà con còn gặp nguy hiểm thì cái tâm mình bỏ ra coi như hỏng”.
Khi đủ số nguyên liệu, anh ngày đêm tỉ mẩn ngồi gò hàn, ghép nối. Việc sửa xe bỏ ngỏ, thậm chí chuyện ăn uống cũng chỉ để cầm hơi. Lắm hôm làm quá bữa, nhà hết gạo, anh chạy qua hàng xóm ăn nhờ. Tối đến thì ăn gói mì tôm, uống ly nước lọc đỡ đói. Anh Dũng vừa làm vừa tính, vì chi phí hạn hẹp, trong khi càng làm càng phát sinh thêm. Một mình anh làm không nghỉ tay, cây cầu được thiết kế cẩn thận đến mức anh còn đưa một mối nối giữa thân cầu, để khi ghe thuyền qua lại trên sông có thể quay cáp tách cầu ra rồi nối lại như cũ.
Riêng về mối nối này, anh cũng đã suy nghĩ tìm rất nhiều phương án để mối nối thực sự có hiệu quả nhất cho người dân vốn ít hiểu biết về kỹ thuật. Ban đầu, anh tính dùng mô tơ quay bằng điện. Tuy nhiên, do cầu thả giữa sông nước, đôi khi lại còn ngấm nước mưa. Nếu người sử dụng sơ ý có thể dẫn đến điện giật gây tử vong. Anh chuyển qua sử dụng mô tơ quay tay, mặc dù thao tác mất nhiều thời gian nhưng lại an toàn và dễ thực hiện với bất kỳ người dân chèo đò nào.
Thấy anh thực hiện công việc nghiêm túc, người dân mới tin là anh dám làm thật, từ đó chung tay góp sức với anh. Miệt mài hơn hai tháng thì cây cầu phao nên hình dáng. Cây cầu có chiều dài 78m, rộng 2m, tải trọng 750kg bắt ngang sông Vu Gia bằng 146 chiếc thùng phuy, 5 khối gỗ, 1.8 tấn sắt, 300m cáp là cả công sức và gia tài của anh thợ sửa xe nghèo.
Những ngày góp công làm cầu, không khí thôn xóm vui hơn hẳn. Từ cụ già đến trẻ nhỏ, mỗi người phụ một tay. Người nhổ cỏ, kẻ ban đất làm một lối dẫn xuống cầu. Thanh niên có sức thì hợp lực đưa từng thùng phuy, từng mối cầu thả xuống sông rồi ghép nối lại. Các bà các chị biết anh thường bỏ bữa nên nấu cơm mang đến tận nơi. Tình cảm của bà con khiến anh càng thêm hăng hái, tận lực làm việc. Mong cho nguyện ước về cây cầu sớm được hiện thực hóa.
Ban đầu, cầu chỉ được neo lại bằng dây sắt chắp nối. Anh Dũng thấy vậy ngày lo, đêm mất ngủ. Con nước Vu Gia chảy xiết, nếu cầu bị cuốn trôi thì coi như công sức đổ biển. Nhưng, khi cây cầu thành hình thì bản thân anh không còn một xu dính túi, không còn tiền để mua thêm vật liệu. May mắn, một người con xa xứ về quê làm giỗ, biết tấm lòng anh thợ sửa xe nghèo nên đã tặng anh một số tiền hỗ trợ. Anh Dũng đã nhờ người này mua đoạn dây cáp chắc chắn để neo cầu. Lúc đấy anh mới thực sự đỡ phần nào lo lắng.
Người điên làm nên chuyện
Khi mối nối cuối cùng hoàn tất, cây cầu được đưa vào hoạt động, cuộc sống đôi bờ Vu Gia có phần nhộn nhịp hơn thường ngày. Bác Năm (thôn Nghĩa Nam) tranh thủ đi làm đồng về lúc giữa trưa, gặp chúng tôi bác hồ hởi khoe: “Nay tui muốn đi thăm đồng lúc nào thì đi, không lo canh chừng đò nữa, lại còn đi bằng xe đạp bon bon, thiệt là khỏe hơn trước rất nhiều. Bà con bên tui giờ có thể làm thêm công, thêm việc tăng thêm thu nhập”. Bác cười: “Chưa kể, có cầu rồi thì thương lái trực tiếp đến tận đồng mua hoa màu, chúng tôi không cần phải gồng gánh qua cầu tre như xưa, không cần đợi người qua mua, thiệt là bớt được bao nhiêu là cái lo. Nay thì an tâm làm thôi”.
Anh Nguyễn Văn Cường, một thương lái chợ đầu mối Hòa Cường, Đà Nẵng nói thêm: “Nhờ anh Dũng làm cây cầu mà nay tụi thương lái chúng tôi có thể tiết kiệm được thời gian và tăng thêm số lần vận chuyển hàng so với trước. Lúc còn cầu tre, bản thân tui cũng té sông mấy lần, nhưng đi vòng bằng đường cầu Quảng Huế (xã Đại An) thì đoạn đường dài gấp 3 lần, mất nhiều thời gian mà ít hiệu quả kinh tế. Giờ thì chạy thẳng đường cầu phao, tụi tui qua thu mua, chở hàng tận nơi không cần chờ người dân gọi, hay chờ mua hàng nữa”.
Từng lớp học sinh đạp xe qua cầu cũng vui không kém. Em Cao Nhật Tâm, học sinh Trường THPT Lương Thúc Kỳ cho biết: “Lúc trước tụi em đi đường vòng, phải mất gần một tiếng đồng hồ mới tới trường, nay đi cầu phao thì chỉ cần 30 phút. Mùa mưa tụi em cũng tự đi học được, không cần ba má chống đò đưa đón. Chú Dũng tốt quá”.
Cây cầu mới đưa vào hoạt động, nên ngày nào anh Dũng cũng ra kiểm tra vài lần. Anh cẩn thận kiểm tra từng tấm gỗ, từng mối nối. Rồi chỉ cho người dân chèo đò biết cách tự tách mối nối thân cầu để lưu thông đò. Phải tận mắt thấy bà con qua cầu an toàn, xe máy chở hàng nặng, cầu vẫn chịu lực tốt anh mới an tâm.
Khi biết tin anh thợ sửa xe nghèo gom đến đồng tiền cuối cùng để xây cầu phao cho dân, bao người con xa xứ cảm động trở về lại dòng sông xưa để tận mắt thấy sự đổi thay của quê mình. Không ít người rơi nước mắt khi nhớ lại tuổi thơ ba mẹ phải chống đò, bồng bế con qua sông đi học. Mùa nước lũ tràn về, cầu trôi, học sinh nghỉ học. Họ thay nhau tiếp nối những câu chuyện vất vả, cực khổ của thế hệ mình. Rồi vui mừng, cảm phục hành động của anh Lê Tất Dũng.
Những người xa xứ này cũng góp thêm mỗi người một phần nhỏ, giúp anh Dũng hoàn thành nốt những phần còn thiếu của cây cầu. Anh Dũng dự tính, hiện tại đang mùa nắng nên độ dài cây cầu như vậy là vừa đủ. Nhưng khi mùa mưa đến thì phải nối dài thêm. Chưa kể, con đường mòn dẫn xuống cầu chỉ được ban ra bằng lớp đất bùn, nước mưa sẽ cuốn trôi con đường này nếu nó không được bê tông hóa. Nhưng cái lo cũng chỉ là lo vậy, vì lúc này theo như lời anh nói thì: “Tui thiệt sự cạn máu rồi”.
Nhìn cây cầu nhộn nhịp người lại qua, anh Dũng vui mừng: “Công sức của bà con tui đấy, không có bà con thì tui chịu, không làm hết được. Thế hệ tui không làm được nhiều, nhưng học trò quê tui có điều kiện đi học rồi, chắc chắn mai sau quê tui sẽ có cầu bê tông đàâng hoàng”. Nói vậy rồi anh cười sảng khoái, đôi mắt ánh lên sự tin tưởng về một tương lai quê hương được đổi mới, giàu đẹp hơn