Gần như biển, xa như biển

Rảnh việc, mó cái điện thoại, mày mò facebook, đập ngay vào mắt là status của một ông em nhạc sỹ: "Nướng con khô mực lên cho thơm để cho vô nồi hủ tíu xương huyền thoại, mà nó thơm quá nên lỡ dứt mất nửa con hahaaaa".

Bèn bấm like một cái để rồi lại phải like một cái nữa cho bình luận của một ông em nhạc sỹ khác "nếu như là anh thì 100% anh sẽ chọn con mực nướng, không hy sinh vô ích như vậy". Cả hai ông em đều dân thích nhậu cả, đều thuộc diện thỉnh thoảng nhắn cái tin cho nhau hai chữ "Chơi, chơi?" là hiểu ý cáp kèo, chọn quán, kéo quân đi.

Tự dưng, chỉ vì cái dòng trạng thái và cái bình luận kia mà một cơn thèm khô mực nướng kéo lên dữ dội. Bao lâu rồi không ăn một miếng mực nướng ngọt, thơm, với tương ớt cay xè lưỡi? Thế là vội vàng chạy xuống nhà, lục tủ lạnh, mở ngay cái bịch khô mực Nha Trang được biếu bỏ không lâu nay, rút một con, châm cồn, nướng. Rồi hì hụi pha tương ớt. Tự thưởng thêm cho mình mấy lon bia lạnh ngồi lai rai đợi bữa cơm chiều.

Cái món mực nướng chấm tương ớt phải thừa nhận nó là mồi nhậu đỉnh cao nhất của đỉnh cao. Nó gọn gàng. Nó nồng nàn. Nó ăn khớp với cả bia lẫn rượu. Và nếu nói về tương ớt chấm mực khô nướng thì phải là thứ tương ớt Bắc chứ không phải loại tương công nghiệp bán đầy ngoài siêu thị. 

Kỹ tính thì lấy tương ớt ấy, cho thêm ít tỏi đập dập, bỏ thêm 1 chút xíu đường. Chỉ cần chút xíu đường ấy thôi, cái cay nó "đội giá" lên gấp mấy lần. Và thú thực, kiểu pha tương ớt này chỉ là mang máng nhớ lại ký ức của ngày thơ ấu chứ vẫn chưa đạt được độ đỉnh cao của loại tương ớt chấm mực nướng vỉa hè thời thập niên 80 được bán mỗi chiều mùa Hè ở ngay trước cổng bể bơi Tăng Bạt Hồ - Hà Nội.

Ảnh: L.G.
Ảnh: L.G.

Ngày ấy, lũ chúng tôi mới hơn chục tuổi, cứ tuần độ một hai lần lại được cha mẹ cho hai đồng để mua vé bơi. Cái bể bơi mỗi tuần thay nước đúng một ngày thứ Hai, màu nước xanh toàn tảo với rêu, lại còn tanh tanh nữa. Thế mà hấp dẫn lạ thường. Bơi xong, đứa nào còn tiền thì rủ cả đám sà vào mẹt mực nướng của mấy bà già. Con khô mực lúc ấy bé bằng nửa bàn tay học trò. Xé ra chia nhau mỗi đứa vài sợi, vừa ăn vừa xuýt xoa. Ăn xong, có đứa còn cầm cả cái bát nước tương ớt nhỏ xíu xíu húp cho đã. Ngày ấy, con mực khô là cái gì quý giá lắm.

Những năm đó, thi thoảng có người thân từ quê ngoại (Quảng Nam) ra Hà Nội ghé thăm, biếu hai ba con khô mực to ơi là to. Những khi ấy, trong lòng tôi là cả một sự háo hức đợi chờ. Tôi mong ông già có bạn đến chơi. Kiểu gì mẹ cũng sẽ lôi một con ra, bật cái bếp điện lò xo lên nướng mực để ông già uống rượu với bạn. Tất nhiên, bộ râu sẽ là phần tôi. Nhấm nháp bộ râu mực ấy là cả một sướng khoái tột độ, cái sướng khoái mà chỉ có thời bao cấp ở những đô thị không có biển mới có thể được hưởng thụ ngậm ngùi.

Sau này, kinh tế không còn khó khăn nữa, việc thông thương giữa các địa phương đã dễ dàng rồi, cái thú gặm nhấm từng mảnh khô mực nướng con con không còn trở nên "thiêng liêng" nữa. Sự dư thừa, sự tiện nghi đã giết chết cái cảm giác thèm thuồng thơ dại ấy rồi. Nhưng con khô mực bên bàn bia thì vẫn là một thức nhắm thường xuyên của cánh mày râu. Hồi đó, tôi cũng hay ghé quán bia hơi ở Tăng Bạt Hổ vì gần nhà. Còn nhớ, một anh bạn người Mỹ làm thường trú cho hãng tin AP ở Hà Nội ngày ấy vẫn hay rủ rê tôi ghé Tăng Bạt Hổ mỗi tuần. Và anh ấy tự đặt tên cho quán bia ấy là "BBC", một cái tên rất… báo chí. Đơn giản, theo anh, BBC là viết tắt của "Bia Buổi Chiều". Tôi cho rằng cái tên ấy thực sự đắt giá, và thú vị.

Bây giờ, ngồi nhẩn nha con khô mực một mình trong căn nhà lộng gió chiều, tự dưng nghĩ vơ nghĩ vẩn đến chuyện cũ. Rồi nhớ đến việc mấy hôm trước, cũng một chiều như thế này, nhưng trời lại rả rích mưa, có bắt grab bike để đi BBC với bạn ở gần khu sân bay Tân Sơn Nhất, được nghe câu chuyện của cậu bé chạy grab, một người dân miền biển đúng nghĩa. Chính từ câu chuyện ấy mà tôi đã hiểu ra nghề đi biển đánh bắt nó khác xa với hình dung của mình rất nhiều. Nói thẳng ra, bữa đi xe đó đúng là bữa "lãi" vì được học những thứ kiến thức của người ngư dân thực thụ mà chẳng mất xu nào.

Cậu trai ấy quê Bình Thuận, mảnh đất ngoài nghề đi biển, nghề làm dịch vụ du lịch thì còn có 2 nghề chính là nuôi tôm và trồng thanh long. Và điều khá kỳ lạ là thường khi nào người trồng thanh long thắng vụ thì mấy người nuôi tôm lại thất thu. Ngược lại, năm nào ông nuôi tôm trúng to thì ông thanh long cũng dễ mất mùa lắm. Hiếm có năm nào cả hai nghề đó cùng vượng cả. Bạn thân tôi, từng nhiều năm bỏ Hà Nội vào Bình Thuận nuôi tôm có kể "Có năm được mùa tôm, sang nhà kế bên trồng thanh long khệnh khạng hỏi mua đất trồng người ta để mở rộng trại tôm. Có năm tôm bệnh, lỗi chổng vó, mấy ông thanh long được mùa lại sang bên mình gạ mình bán đầm để ổng trồng thanh long". Chuyện nghe cứ như đùa. Nhưng mà nó thật, thật như cái bấp bênh của đời người làm nông.

Cậu trai ấy tên Trí. Xưa, nhà cậu là một trong mấy nhà chủ tàu lớn trong xã. "Giờ ba em bỏ đi tàu rồi. Phần vì nhà em bốn anh em, ba người ở trên vô thành phố, học đại học xong việc làm ổn định rồi. Còn mỗi em, vẫn đang đi học. Vừa học vừa chạy grab kiếm thêm. Phần vì đi biển bây giờ khó lắm. Không ăn nữa anh ạ", Trí rỉ rả kể tôi nghe khi xe vừa qua cầu Kinh Tẻ. "Một xã chỉ có dăm ba nhà có tàu thôi hả em?", tôi hỏi. "Vâng anh, phần còn lại là đi làm thuê cho chủ tàu. Xã em xưa cũng được chục nhà có đội tàu. Giờ còn có 3 nhà thôi. Cùng bỏ hết rồi. Biển bây giờ không còn nhiều cá như xưa nữa".

Biển không còn nhiều cá như xưa nữa. Đó là một thực tế mà một ngư dân đã trải qua kể lại chứ không phải là một mối lo sợ nào mà mấy ông yêu môi trường thổi vống lên cả. "Một chuyến đi, tốn nhất tiền dầu. Nên tính đi tính lại, cả lương cho thợ nữa, đi biển bây giờ cực lắm, không có như xưa", Trí kể tiếp. Tôi hỏi cậu về cái cực khác nữa, cái cực của việc đi khơi gặp thiên tai nhưng cậu lại gạt đi ngay. "À, bão hả? Thường là có dự báo nên biết có bão không ai đi hết cả anh ơi. Chỉ có khi nào bão vô bất ngờ, mà mình còn ngoài khơi thì mới sợ. Những lúc đó thì kinh nghiệm của người thuyền trưởng quan trọng lắm. Quyết định của ổng là quyết định sống còn của bao nhiêu con người. Nhưng cái đáng sợ của bão không phải mình đối diện nó ngoài khơi mà là mình phải nghỉ đi biển nằm nhà. Nghỉ đi biển thì vẫn phải có tiền đưa cho thợ chứ không họ lấy đâu tiền đóng tiền học cho con họ, tiền chợ nuôi gia đình", Trí kể tiếp. Và cậu nói về những người thợ đi biển. Nhận tiền ứng của chủ tàu mà mãi sau này không trả nổi, họ lại đành đi qua làm cho chủ tàu khác. Đến khi tiếp tục nợ chủ tàu khác, đủ vòng rồi họ quay về với mình. Mà chủ tàu thì cũng không nỡ đòi vì đòi họ, họ giận, lấy đâu thợ đi khơi.

Cái đời sống biển mà Trí kể khiến tôi càng ngày càng thêm tò mò. Hoá ra, một đợt đi khơi không phải là họ đi biền biệt mấy tuần mới về mà có khi tàu đầy cá là về bến xả ngay rồi lập tức quay ra tiếp, khi nào ướm thấy gần hết dầu rồi thì về. Nhưng cũng có cả những tàu thương lái cập tận mạn để thu mua. Nói chung, tính toán làm sao để cân đối số lần ra vào một chuyến đi khơi, lúc nào thì gọi thương lái, lúc nào thì mang vào bến xả hàng, tất cả đều là bài toán của người chủ tàu hết. Rồi cách chấm công thợ, hoa tiêu thì bao nhiêu công, cầm lái bao nhiêu công vân vân và vân vân, đều phải chi tiết hết, để khi về, trừ tiền dầu, trừ các chi phí khác nữa, doanh thu chuyến đi khơi mới được chia ra theo số công chứ không phải kiểu trả lương cứng. Hoá ra, đó là một dạng cộng tác với nhau mà sống, mà làm của những người cùng làng, cùng xã, cùng xóm, cùng thôn… Họ dựa vào nhau mà sống, nương vào biển mà sống. Ngay cả thương lái thu mua cũng vậy. Trí kể, lái ra thu mua bao giờ cũng mang tặng nước ngọt, mấy thùng bia, ít thịt heo, rau củ, ít rượu… Còn muốn có thêm thì họ cũng sẵn hàng mà bán. Những điều ấy khiến tôi hình dung ra cả một hệ thống chợ, một chuỗi cung ứng ngay trên mặt đại dương, đủ đầy hết để người dân có thể bám lấy biển mà sống.

"Bây giờ thì ít người đi khơi rồi. Vừa cực mà tiền không nhiều như xưa nữa. Họ đi làm công việc khác. Nhiều người cũng vào thành phố kiếm sống như em", Trí nói. Tôi không dám hỏi cậu có nhớ biển không vì câu hỏi ấy là thừa. Người sinh ra bên tiếng sóng, lớn lên trong sóng, trưởng thành cưỡi sóng, làm sao xa biển mà không nhớ biển bao giờ.

Rồi mông lung nghĩ về đợt bão triền miên này, bỗng thấy quặn lên một câu hỏi xoay quanh chuyện ầm ĩ quanh quanh mấy chuyện chia tiền, chia quà cứu trợ. Mùa thiên tai nào những chuyện đó cũng xảy ra mà tại sao không một ai nghĩ về hướng giải quyết đẹp lòng tất cả nhất. So sánh nó với chuyện những ngày bão ở quê Trí ngày xưa, chủ tàu nghỉ thì chủ tàu cũng đâu có đồng vào. Vậy mà vẫn phải có đồng ra cho thợ đi tàu để họ duy trì đời sống, dù biết đồng ra ấy tiếng là cho vay, là ứng trước nhưng chẳng bao giờ đòi lại được. Cái đó thật ra nó là san sẻ thôi. Nhà có điều kiện hơn thì san sẻ những nhà gian nan chật vật. Và suy cho cùng, khi ở vào thế gian nan, người dân ngửa tay nhận lấy những món quà, những khoản tiền hỗ trợ là vì họ cần chúng thực sự. Khi họ không nhận được mà nhà khác lại có, họ thắc mắc hẳn có hai ý. Thứ nhất là họ cũng đang vật vã qua ngày nên với họ vật chất kia dù nhỏ nhoi nhưng rất qúy. Nhưng thứ hai mới là sâu xa hơn, họ muốn nhận được sự quan tâm, nhất là trong bối cảnh xung quanh mình nhiều người được nhận sự quan tâm ấy quá.

Suy cho cùng, dù cái sự mong mỏi nhận được sự quan tâm kia nó nằm rất sâu trong tiềm thức mà ngay cả người dân kia cũng không ý thức rằng mình đang thể hiện nó đi nữa, thì nó cũng rất đáng được tôn trọng. Lúc không có hoạn nạn nào, chẳng mấy khi một người nông dân, ngư dân bình thường cảm thấy họ được quan tâm thực sự cả. Chỉ khi có thiên tai xảy ra, họ mới thấy mình bỗng dưng trở thành trọng tâm của cộng đồng. Phận con sâu, cái kiến, mấy khi được ai nhắc tên. Chẳng lẽ cuộc đời này có những người được sinh ra và mãi mãi cứ vô danh như thế.

Mấy hôm nay trời thành phố đẹp. Mà mùa này, trời thành phố đẹp thường báo hiệu miền Trung bão lại về. Tôi tự nhiên thấy con khô mực mình đang nhấm nháp đây nó không chỉ ngọt ngào như ký ức mà bắt đầu nhân nhẩn cái vị đắng, vị chát và cả cái cay cay không phải của vị giác theo nghĩa đen. Ở kỳ dịch COVID-19 đỉnh điểm, chúng ta từng tự hào rằng "không ai bị bỏ lại phía sau cả" nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ rằng, ở những ngày bình thường nhất, khi chúng ta có thể tận hưởng cuộc sống vui vẻ, dễ chịu của mình, có biết bao nhiêu con người thật ra đang bị bỏ lại phía sau, vô danh. Để rồi đến khi họ trở thành trọng tâm được quan tâm vì một biến cố nào đó, tiếc thay, vẫn có những người bị bỏ lại bởi những tiêu chuẩn rất khô cứng nào đó, hoặc chỉ vì những hình ảnh sao đi chép lại trên mạng mà không hề kể hết được câu chuyện thật của một đời người.

Thế nên, khi đọc được rằng có ai đó tị hiềm "tại sao tôi không được nhận quà?", hoặc có ai đó bị tố cáo là "trưởng thôn nhà to lắm mà vẫn  có quà", chúng ta chậm đánh giá họ lại được không? Và thử hỏi, bao lâu rồi, họ vô danh trong một cái làng vô danh như thế…

Lòng người, hoá ra cũng như biển. Gần như biển mà cũng xa như biển… 

Hà Quang Minh

Các tin khác

Chương trình Lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng tháng 5/2026 thu hút hàng nghìn người đổ về

Một concert, vạn dịch vụ hưởng lợi

Du lịch âm nhạc tạo ra một nguồn thu lớn khi thu hút lượng lớn người xem, kèm theo hàng loạt các dịch vụ khác như lưu trú, ăn uống, mua sắm. Đây cũng là lý do nhiều địa phương bắt đầu xem các đại nhạc hội như một công cụ phát triển kinh tế, tương tự cách họ từng làm với các lễ hội văn hóa truyền thống.

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Dấu ấn Pháp tại World Cup 2026

Khi danh sách các đội tuyển dự World Cup 2026 được gửi tới FIFA, một thống kê đã làm sáng tỏ vị thế độc tôn của bóng đá Pháp: Với 99 cầu thủ sinh ra tại Pháp - chiếm gần 8% tổng số nhân sự dự giải, vượt xa Hà Lan (67 người) và Đức (50 người) để trở thành nước xuất khẩu cầu thủ nhiều nhất thế giới.

Thanh kiếm quyền lực

Thanh kiếm quyền lực

Trong các câu chuyện về kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công ở nước ta năm 1945, hầu như không thể thiếu đề tài: Đại diện chính quyền cách mạng tiếp nhận ấn, kiếm và chứng kiến Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Từ vở múa “Khổng tước”: Làm thế nào để có những đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Việt Nam?

Sau bốn suất diễn tại Nhà hát Hồ Gươm, vở vũ kịch “Khổng Tước - The Peacock Hanoi 2026” đã khép lại hành trình tại Hà Nội, để lại nhiều dư âm sâu sắc trong lòng khán giả. Không chỉ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ múa tinh tế và không gian sân khấu giàu tính nghệ thuật, vở diễn  tạo nên những rung động mạnh mẽ với người xem.

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Từ vụ nhạc sĩ Minh khang: 100 cái lý không bằng 1 cái tình

Một đoạn clip tranh cãi tưởng chừng chỉ là va chạm cá nhân lại nhanh chóng bộc lộ phía sau nó những vấn đề lớn hơn, đáng để người ta phải suy ngẫm, đó là cách ứng xử của người nổi tiếng trong cuộc sống đời thường, đó là văn hóa kinh doanh, coi khách hàng là "ông nội", sẵn sàng cho người lao động nghỉ việc, khi áp dụng bộ quy tắc cứng nhắc.

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Năm 2026 và hy vọng mới cho “lá phổi thế giới”

Khi thế giới nói về biến đổi khí hậu, Amazon thường được nhắc đến như “lá phổi của Trái đất”. Nhưng ở phía bên kia Đại Tây Dương, rừng mưa Congo - khu rừng nhiệt đới lớn thứ hai thế giới - đang âm thầm gánh vác vai trò không kém phần sống còn đối với khí hậu hành tinh, trong khi sự quan tâm, nguồn lực và cam kết bảo vệ lại quá ít ỏi.

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Lên Tà Xùa uống trà Shan tuyết

Trà Shan tuyết cổ thụ mọc trên những ngọn núi cao, trải dài từ Đông Bắc qua Tây Bắc. Mỗi vùng thổ nhưỡng khác biệt, hương vị trà cũng vì thế mà có nhiều biến đổi. Trà từ phía Đông như Quản Bạ, Tây Côn Lĩnh, Hoàng Su Phì của Hà Giang thiên về vị ngọt, chuyển qua cực Tây với Tủa Chùa của Điện Biên sẽ nồng nàn đắng chát, trục giữa có vùng trà cổ thụ ở Tà Xùa (Sơn La), lại mang sự cân bằng hoàn hảo ở cả hương - vị trong nội chất trà.

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Sau hơn 13 năm xung đột, con số cần để tái thiết một Syria đổ nát, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), có thể là 216 tỷ USD, hoặc lớn hơn rất nhiều. Nhưng với Syria, thách thức chính trị, kinh tế và an ninh đan xen chặt chẽ, và thành công của tiến trình chuyển tiếp sẽ phụ thuộc vào việc nước này có thể xây dựng được thể chế bao trùm, có tính chính danh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ lún vào vòng xoáy bạo lực và chủ nghĩa chuyên chế hay không.

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang rất lúng túng trước làn sóng tội phạm tài chính gia tăng nhanh chóng. Tình trạng nghiêm trọng đến mức Hiệp hội Thẩm phán nước này mới đây phải lên tiếng cảnh báo, nếu không sớm có hành động hiệu quả, Đức sẽ trở thành “thiên đường cho tiền bẩn”.

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ “va chạm” với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Phỏng vấn một cái chén

Phỏng vấn một cái chén

PV: Sống cùng chị Chén quá nửa đời mà chưa được phỏng vấn chị lần nào. Xin chị giới thiệu bản thân với độc giả ngắn gọn nhất có thể!

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi cựu lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lật đổ năm 2011, Libya vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chia cắt chính trị và bất ổn kéo dài. Quốc gia Bắc Phi này hiện tồn tại song song hai chính quyền đối lập, một là Chính phủ Đoàn kết Dân tộc (GNU) được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, có trụ sở tại Tripoli, và Chính phủ Ổn định Quốc gia (GNS) ở miền Đông, gắn với Hạ viện Libya đặt tại Tobruk.

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Gần cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 11/2025, vì một sự may mắn nào đó, sóng biển đã hai lần làm lộ diện một phần lớn tàu cổ Cẩm An tại khu vực biển Thịnh Mỹ, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nhưng sự may mắn ấy chưa được cấp thẩm quyền chớp lấy bởi đang vấp phải sự lừng khừng từ nhiều phía. Nếu không chủ động nắm bắt cơ hội do sóng biển hung dữ mang lại, một ngày không xa, tàu cổ Cẩm An mang chứa trong mình nhiều điều bí ẩn về lịch sử, văn hóa… sẽ lại bị nhấn chìm dưới đáy biển.

"Nhảy dù" giữa thời bình

"Nhảy dù" giữa thời bình

Trong các lực lượng tinh nhuệ thì lực lượng nhảy dù là đứng đầu. Tiền tuyến hậu phương sẽ mơ hồ bởi lính dù luôn xuất hiện sau lưng đối phương. Lính dù phải khỏe như hổ, nhanh như sóc, gan đầy mình, thần kinh thép, trí dũng song toàn… Tiêu chuẩn tuyển chọn rất cao.

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Sau bao năm đối diện với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí đôi lúc suýt rơi vào nguy cơ bị "khai tử" bởi dự án xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị, đến nay di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Hà Nội) đã chính thức được định danh là di tích cấp thành phố, mở ra nhiều hướng tiếp cận mới từ góc độ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản.