Trả lời: Luật sư Nguyễn Thị Hảo – Trưởng Văn phòng Luật sư Hảo Anh, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho biết: Tại điểm a khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm: “Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và không phải là người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng”. Như vậy, người lao động không được tham gia đồng thời bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Trường hợp của bạn đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hợp đồng lao động với doanh nghiệp, bạn không thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cùng một lúc để tăng mức lương hưu được hưởng sau này.
Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Tại khoản 5 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 định nghĩa bảo hiểm hưu trí bổ sung như sau: “Bảo hiểm hưu trí bổ sung là loại hình bảo hiểm mang tính chất tự nguyện theo nguyên tắc thị trường nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ đóng góp của người sử dụng lao động hoặc của người sử dụng lao động và người lao động”.
Về đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung căn cứ Điều 4 Nghị định số 85/2026/NĐ-CP ngày 25/3/2026 quy định đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung bao gồm người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội.
Căn cứ quy định tại Điều 125 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Điều 5 Nghị định 85/2026/NĐ-CP thì mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện. Khi các bên nhất trí tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, người sử dụng lao động ký hợp đồng tham gia chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí. Căn cứ danh sách người lao động tham gia, doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí mở tài khoản hưu trí cá nhân cho người lao động.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 85/2026/NĐ-CP thì khoản tiền đóng góp vào mỗi tài khoản hưu trí cá nhân của người lao động bao gồm: Khoản tiền đóng góp của người sử dụng lao động cho người lao động (nếu có); khoản tiền đóng góp của người lao động (nếu có).
Căn cứ vào chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã đăng ký và văn bản thỏa thuận với người lao động, người sử dụng lao động nộp tiền vào quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung và thông báo cho doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí về số tiền đóng cho từng người lao động theo quy định.
Người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp này khi đáp ứng điều kiện nêu cụ thể tại văn bản thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc khi thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Bị tử vong.
b) Đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.
c) Có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng.
Như vậy, khi nghỉ hưu, ngoài mức lương hưu được hưởng khi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động còn được hưởng thêm một khoản tiền từ quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung khi tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp.