Dì tôi, Hồ Mộ La

Cho đến mùa xuân vừa rồi, khi ra Hà Nội làm giỗ cho mẹ tôi - NSƯT Tân Nhân, tôi mới được gặp lại dì, Nhà giáo ưu tú Hồ Mộ La, khi này cũng đã 85 tuổi. Tôi đã cùng các em tôi là Lê Khánh Như, Đặng Gia Phú… đến đón dì và thực hiện điều dì luôn mong mỏi: Đưa dì và con gái của dì là Hồ Lam Hồng đến nơi mẹ tôi yên nghỉ để thắp hương và hóa vàng cho mẹ tôi.

Nhìn dì lặng lẽ ngồi bên mộ mẹ tôi, mái tóc bạc trắng, những dòng nước mắt nhớ bạn lặng lẽ nuốt vào bên trong… thú thực tôi không cầm được nước mắt.

Tình bạn giữa dì và mẹ tôi đã đi suốt cuộc đời của hai người, là một tình bạn, tình nghệ sỹ hết sức cao quý và xúc động, để rồi khi mẹ tôi mất đi, dì thốt lên đã mất một người bạn quý nhất trong đời…

Dì là con gái của nhà chí sỹ cách mạng nổi tiếng Hồ Học Lãm. Dì thân thiết với mẹ tôi suốt từ những năm tháng tuổi thanh xuân đến lúc bạc đầu, và có thể chia sẻ với nhau tất cả. Cụ Hồ Học Lãm, thân sinh của dì, tôi chưa được gặp, vì cụ mất từ khi tôi chưa chào đời. Nhưng người  vợ yêu quý của cụ mà chúng tôi thường gọi là bà Lãm, thì với tôi lại xiết bao gần gũi. Từ khi tôi còn tuổi ấu thơ, biết hoàn cảnh éo le của mẹ tôi, bà đã nói với mẹ tôi là cho bà đón tôi về nuôi nấng. Nhưng khi mẹ tôi thưa lại đã gửi tôi cho người cậu, thì bà mới cầm lòng thôi ý định nhân từ ấy…

Lớn lên đôi chút, tôi lại hay được gặp bà khi mỗi khi đến báo Nhân Dân là cơ quan của bố tôi chơi. Bà là cán bộ ở đây, và mỗi lần gặp bà với tôi là điều hết sức sung sướng, không phải vì những đồng quà tấm bánh bà cho, mà cái chính là ngọn lửa ấm áp trong tấm lòng bà dành cho tôi, cùng những lời nói vô cùng yêu thương mà tuổi thơ côi cút của tôi lúc nào cũng thèm khát…

Dì Mộ La là con gái họ Hồ, là một dòng họ nổi tiếng ở Quỳnh Đôi - Nghệ  An. Sử sách còn ghi: ông Hồ Bá Ôn là Án sát Nam Định, bị thương nặng và hy sinh trong một cuộc chiến đấu chống giặc Pháp giữ thành. Ông có em trai là Hồ Bá Trị kết duyên với bà Trần Thị Trâm, thường được gọi là bà Lụa. Cụ Hồ Bá Trị hy sinh trong một trận chống cự bọn phản loạn. Khi đó bà Trâm mới 25 tuổi, một nách hai người con trai, con  lớn là Hồ Xuân Kiêm và con thứ hai là Hồ Xuân Lan, tức Hồ Học Lãm mới đầy 2 tuổi. Năm 1906, khi chia tay con tại vùng đất địa cầu của Tổ quốc, bà Lụa xé chiếc khăn, bảo con là Hồ Học Lãm, khi này 22 tuổi và quyết ra đi tìm đường cứu nước: “Cái khăn này được dệt ra là để rửa mặt cho con người. Con sinh ra là để rửa nhục đất nước. Con ra đi chuyến này sẽ gặp khó khăn, nhưng không được bỏ việc giữa chừng...”.

Đến Trung Quốc, ông Lãm được cụ Phan Bội Châu cử đi cùng một số học sinh khác sang học Trường võ bị “Chấn Vũ” tại Tô-ki-ô (Nhật Bản). Trong lớp học này, có cả Tưởng Giới Thạch, và Tưởng đã làm quen với anh thanh niên Hồ Hinh Sơn, tên bí mật của Hồ Học Lãm. Lãm học rất giỏi và  thường giúp Tưởng học hành. Khi Chính phủ Nhật Bản trục xuất tất cả học sinh Việt Nam, Hồ Học Lãm trở lại trường quân sự Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch cũng tiếp tục vào học trong trường cùng Hồ Học Lãm…

Dì tôi, Hồ Mộ La ảnh 1
Nhà giáo ưu tú Hồ Mộ La.

Hồ Học Lãm tốt nghiệp năm 1911, là năm Cách mạng Tân Hợi thành công, cũng là lúc cụ Phan Bội Châu và các nhà yêu nước Việt Nam thành lập Việt Nam Quang phục Hội tại Quảng Châu. Xem xét nhiều bề, cụ Phan Bội Châu mới đồng ý để ông Hồ Học Lãm vẫn ở trong quân đội, chuẩn bị lực lượng, chờ đón thời cơ. Ông Hồ Học Lãm trở thành một sỹ quan cao cấp của quân đội Tưởng. Khi ông Hồ Tùng Mậu và các đồng chí thành lập An Nam Cộng sản Đảng tại Hồng Kông, ông Hồ Học Lãm được mời tham gia, nhưng ông đã từ chối với suy nghĩ: “Cứ để tôi ngoài Đảng, có thể giúp đỡ, phục vụ Đảng được nhiều hơn…”. Ông thường tâm sự: “Hình hài, thể xác tôi lúc này là Quốc dân đảng Trung Quốc, nhưng trái tim, tâm hồn tôi thuộc về cách mạng, về Tổ quốc Việt Nam”. Và sẵn sàng làm mọi việc khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc hay cách mạng VN yêu cầu.

Vào năm 1936, Đại hội thành lập “Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội” do ông Hồ Học Lãm chủ trương. Sau này, khi hay tin Quốc dân Đảng Trung Hoa có âm mưu thành lập tổ chức “Hoa quân nhập Việt”, Đảng ta nhanh nhạy thành lập một tổ chức của Hội Đồng minh là “Biện sự xứ” của “Việt Nam Độc lập Đồng minh hải ngoại” do ông Hồ Học Lãm làm chủ nhiệm và ông Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng) làm phó chủ nhiệm. Tiếp đó, một Hội văn hóa Việt - Trung có tên “Trung Việt văn hóa công tác đồng chí Hội” được thành lập, cũng do ông Hồ Học Lãm làm Chủ nhiệm.

Cuối năm 1942, nhận được tin báo “lão đồng chí Hồ Chí Minh bị mất tích ở biên giới”, chính bà Khôn Duy, tức bà Lãm đã cùng chồng đi vận động các nhà chức trách thả lão đồng chí Hồ Chí Minh. Vào những ngày đầu năm 1943, khi được tin đã tìm được Nguyễn Ái Quốc, ông Hồ Học Lãm rất đỗi vui mừng, nhất quyết đi thăm ông Nguyễn Ái Quốc. Nhưng sức khỏe ông Lãm đã quá xấu, mong ước này không thể thực hiện. Ông mất ngày 8 tháng 3 năm Quý Mùi, tức  ngày 12 tháng 4 năm 1943, hưởng thọ 60 tuổi. Có nguồn tin nói rằng, Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (Sau này là đại sứ VN tại Triều Tiên) từng có lần kể: “Bác Hồ đã có ý định khi cách mạng thành công sẽ mời ông Hồ Học Lãm về làm Chủ tịch nước”. Điều này nói lên sự khiêm tốn của Bác, Bác không màng chức tước địa vị, đồng thời cũng là sự đánh giá cao của Bác về ông Hồ Học Lãm. Tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ tịch cử người đi đón bà Khôn Duy và hai con gái đưa về nước. Khi về đến Tổ quốc, bà Khôn Duy tham gia công tác ở địa phương cùng con gái Diệc Lan, sau này cô Diệc Lan mất, bà  ra Hà Nội công tác ở Báo Nhân Dân, và ở với dì Hồ Mộ La. Dì nguyên là diễn viên hát rất hay của Đoàn ca múa quân đội, cho đến nay mọi người vẫn chưa quên giọng lĩnh xướng của dì trong bản hợp xướng Sóng Cửa Tùng nổi tiếng, và sau đó dì được đưa đi tu nghiệp ở nước ngoài để trở về là giảng viên thanh nhạc của trường nghệ thuật quân đội và của Nhạc viện Hà Nội. Năm 1980, bà Hồ Học Lãm từ trần… 

Ngày bà Lãm mất, tôi lại ở miền Nam, không ra được để đưa tiễn bà. Cho đến bây giờ, tôi vẫn ân hận vì điều này. Với tôi, bà không chỉ cùng ông là những người yêu nước cao quý, những chí sỹ từng đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp cách mạng đất nước, nuôi dưỡng nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng những lúc gặp khó khăn nơi đất khách quê người, mà còn là một người bà vị tha, giàu lòng nhân ái, hay xót xa với những cảnh ngộ côi cút khổ đau như chúng tôi.. Nếu không thế, sao những ngày xa xưa ấy, bà đã từng ý định đưa tôi về nhà nuôi dưỡng, chăm sóc? Ơn này, tình nghĩa này của bà suốt một đời làm sao tôi dám quên?

Bà mất đi, nhà chỉ còn dì La với hai con, vì sau đó, chồng dì là họa sỹ Đặng Đức Sinh cũng ra đi. Tôi biết ngày đó, cũng như mẹ tôi, dì nghèo lắm, rất nghèo giống như rất nhiều nghệ sĩ cách mạng khác.  Nhà cửa chật chội, bàn ghế tiếp khách cũng chẳng có… Chú Sinh chồng dì là họa sỹ, mà cũng chẳng mấy khi có tiền mua toan, mua màu để vẽ. Mẹ tôi kể khi đi học nước ngoài, thương chồng, dì phải nhịn ăn nhịn mặc để mua sơn, mua màu gửi về cho chú vẽ. Rồi đến lúc chú lại bị tai biến mạch máu não, bị liệt mấy năm rồi qua đời (cũng giống như bố tôi)… Đã tưởng dì gục ngã. Nhưng ý chí con người thật phi thường, đúng trong dì có dòng máu họ Hồ, có chất kiên cường của bà Khôn Duy (bà Lãm), bởi vậy mà dì mới có thể đứng vững, tiếp tục những tâm nguyện nghệ thuật của mình, đó là đào tạo cho đất nước những lớp nghệ sỹ mới có tài năng, có đạo đức, và vươn lên nắm bắt những kỹ thuật thanh nhạc hiện đại của thế giới. Tôi không thể quên những lúc mẹ tôi và dì gặp nhau, hai người nghệ sỹ già áo còn vá vai, chân đôi dép nhựa cũng có lúc đứt quai, vậy mà như quên hết sự đời, chỉ thấy say sưa tranh luận phải lấy hơi thế nào, nhả chữ làm sao, làm sao  cho giọng hát vang xa và rõ chữ rõ nghĩa… Tình yêu nghệ thuật của dì và mẹ tôi quả là vô bờ bến, ý thức trách nhiệm nghệ thuật của họ phải nói đúng là khôn cùng…

Cho đến nay, dì đã 85 tuổi. Đôi mắt của dì thậm chí còn không đọc sách được nữa, thế mà ngày nào dì cũng có học trò đến nhà riêng để xin học và học thanh nhạc. (Tôi càng kinh ngạc với thành quả giảng dạy của dì, khi một học sinh của dì mới đây lại được giải nhất một cuộc thi hát toàn quốc). Vẫn như ngày nào, dì vẫn dáng vẻ ấy, nghiêm ngắn, từ tốn, ấm áp. Trải qua rất nhiều biến cố trong đời, lại cũng từng con nhà quan đi theo cách mạng, nhưng dì luôn giản dị, khiêm tốn, chan hòa với tập thể, với đồng nghiệp, và rất ấm áp với các thế hệ học sinh như Rơ Chăm Pheng, Hà Thủy, Anh Thơ… Họ chính là những mầm măng mà dì đã vun đắp để thành những ngọn tre cao vút giữa trời. Đó là những học sinh đã thành tên tuổi, còn  biết bao những học sinh khác là những nghệ sỹ thầm lặng cống hiến cho nghệ thuật… 

…Họ Hồ có rất nhiều người làm quan, nhưng có một người làm nghệ thuật và là nghệ sỹ như dì, cũng thật đáng hiển vinh…

Trương Nguyên Việt

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.