Doanh nghiệp chủ động định giá, Nhà nước tăng hậu kiểm
Về Dự thảo Nghị định thay thế các Nghị định của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương cho biết, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã hoàn thiện Dự thảo Nghị định về kinh doanh xăng dầu, với ba thay đổi lớn: Tinh gọn hệ thống, trao quyền tự chủ về giá và tăng cường quản lý bằng dữ liệu. Theo đó, điều kiện đối với thương nhân đầu mối được nâng cao, trong đó yêu cầu bảo đảm tổng nguồn tối thiểu 300.000 m³/năm trong hai năm liên tiếp, qua đó sàng lọc những doanh nghiệp thực sự có năng lực. Với thương nhân phân phối, Dự thảo hướng tới bãi bỏ các loại giấy phép, thống nhất một loại hình và chuyển sang cơ chế thông báo trực tuyến để quản lý. Một thay đổi quan trọng khác là trao quyền định giá cho doanh nghiệp, thay vì Nhà nước quy định giá bán lẻ như trước đây.
Với dự thảo mới nhất, về cơ chế điều hành giá và bình ổn giá xăng dầu, Dự thảo đề xuất theo hướng doanh nghiệp quyết định giá, Nhà nước kiểm tra, giám sát; Nhà nước không công bố giá cơ sở định kỳ.
Thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối ngoài hệ thống tự quyết định, kê khai giá. Thương nhân phân phối trong hệ thống bán không cao hơn giá do thương nhân đầu mối cung cấp công bố. Thương nhân phải công bố giá trước thời điểm điều chỉnh, kê khai trong một ngày làm việc và kết nối dữ liệu kê khai giá với cơ quan quản lý.
Công thức giá bán lẻ xăng dầu được xác định theo nguyên tắc: Giá bán = Giá mua + Chi phí tạo nguồn + Chi phí kinh doanh định mức + Lợi nhuận + Thuế.
Trong đó, giá mua và chi phí tạo nguồn do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh. Chi phí kinh doanh định mức áp dụng mức khởi điểm do Bộ Công Thương công bố; hằng năm, thương nhân tự điều chỉnh theo biến động Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) do Bộ Công Thương thông báo. Định kỳ 3 năm/lần, Bộ Công Thương rà soát và công bố lại trên cơ sở báo cáo kiểm toán độc lập của doanh nghiệp.
Trường hợp chi phí biến động bất thường, tác động tiêu cực đến nguồn cung hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng, Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh trước thời hạn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
Đối với địa bàn xa cảng, kho, thương nhân đầu mối được quyết định giá bán thực tế cao hơn nhưng không vượt quá 2% so với giá công bố cùng thời điểm để bù đắp chi phí phát sinh hợp lý.
Về bình ổn giá, Dự thảo quy định thực hiện khi giá biến động bất thường, tăng hoặc giảm liên tục từ 1-4 tuần hoặc biến động cộng dồn 15%-20% trở lên trong thời gian ngắn, gây tác động lớn đến kinh tế - xã hội
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính đề xuất Chính phủ quyết định chủ trương, biện pháp và thời hạn bình ổn giá. Các công cụ được kết hợp gồm tổng nguồn tối thiểu, dự trữ lưu thông, dự trữ quốc gia, thuế, tài chính, tiền tệ và Quỹ Bình ổn giá, nếu có, theo Luật Giá. Dự thảo cũng đề xuất trong trường hợp cần thiết cho phép điều hành giá xăng dầu trong một khoảng thời gian nhất định.
Một điểm mới đáng chú ý trong Dự thảo Nghị định là quy định truy xuất nguồn gốc xăng dầu, theo dõi hành trình của từng lít xăng dầu từ khâu tạo nguồn, sản xuất, nhập khẩu đến kho, cửa hàng bán lẻ và người tiêu dùng.
Theo ông Trần Hữu Linh, đây là công cụ quan trọng để tăng cường quản lý, hậu kiểm và phòng ngừa gian lận thương mại, góp phần hạn chế đầu cơ, găm hàng, mua bán lòng vòng hoặc giao dịch không thực chất. Việc ứng dụng công nghệ và truy xuất nguồn gốc được kỳ vọng giúp minh bạch hơn chuỗi cung ứng xăng dầu.
Để cạnh tranh không làm khó khâu bán lẻ
Dự thảo Nghị định mới trao quyền tự quyết giá xăng dầu cho doanh nghiệp, tạo thêm dư địa cạnh tranh và linh hoạt về giá. Tuy nhiên, các doanh nghiệp bán lẻ lo thương nhân đầu mối có thể chi phối giá, khiến họ mất thế chủ động và gia tăng rủi ro pháp lý.
Một doanh nghiệp bán lẻ ở TP Hồ Chí Minh) cho rằng, doanh nghiệp ủng hộ định hướng đưa hoạt động kinh doanh xăng dầu vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Việc trao thêm quyền chủ động cho doanh nghiệp có thể thúc đẩy cạnh tranh về nguồn hàng, chi phí và chất lượng dịch vụ.
Tuy nhiên, theo doanh nghiệp, việc chuyển từ cơ chế điều hành giá theo kỳ sang để doanh nghiệp chủ động thay đổi giá cần được thực hiện đồng bộ với hạ tầng quản lý. “Không nên thả giá trước khi có hệ thống quản lý giá; không tăng quyền định giá mà thiếu nghĩa vụ minh bạch, cũng không để một tầng trong chuỗi được hưởng lợi trong khi các tầng khác không đủ chi phí hoạt động”, vị này nêu quan điểm.
Doanh nghiệp đề xuất xây dựng Cổng giá xăng dầu quốc gia, kết nối dữ liệu từ giá bán, cột bơm, POS, hóa đơn đến lượng xuất bán. Mỗi cửa hàng có mã định danh và giá mới phải được đăng ký trên hệ thống trước khi áp dụng. Qua đó, người dân có thể tra cứu giá, cơ quan quản lý có dữ liệu giám sát, còn doanh nghiệp có căn cứ điện tử xác định giá hợp pháp tại từng thời điểm.
Đồng thời, doanh nghiệp cũng kiến nghị có lộ trình chuyển tiếp 6-12 tháng, trước mắt giới hạn số lần điều chỉnh giá, thí điểm hệ thống dữ liệu tại một số địa bàn, sau đó mới mở rộng cơ chế doanh nghiệp tự định giá. Đồng thời, cần khảo sát, kiểm toán độc lập chi phí thực tế của từng khâu trong chuỗi cung ứng để bảo đảm nguồn lực phân bổ hợp lý cho cả đầu mối, phân phối và bán lẻ.
“Thị trường cần được vận hành theo hướng Nhà nước quản lý được, doanh nghiệp có thể cạnh tranh và đầu tư, còn người tiêu dùng có đủ thông tin để lựa chọn”, đại diện doanh nghiệp nhấn mạnh.
Tương tự, bà Trần Thụy Thùy Trâm, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Đoan Việt, doanh nghiệp đang vận hành hai cửa hàng xăng dầu tại TP Hồ Chí Minh cho biết, doanh nghiệp đồng tình với định hướng của dự thảo là để giá xăng dầu vận hành theo cơ chế thị trường, đi kèm công khai, minh bạch và hậu kiểm. Theo bà, để định hướng này đi vào thực chất, cần làm rõ chi phí kinh doanh định mức được phân bổ thực tế ra sao giữa các khâu, để chi phí của khâu trực tiếp bán hàng cho người dân được tính đúng, tính đủ.
Theo Dự thảo, chi phí kinh doanh định mức là chi phí lưu thông xăng dầu trong nước, là chi phí bán lẻ ở nhiệt độ thực tế của thương nhân đầu mối, đã bao gồm chi phí dành cho thương nhân phân phối.
“Dự thảo đã xác định đây là chi phí bán lẻ. Vấn đề cần làm rõ là cơ chế phân bổ như thế nào để chi phí thực tế của khâu trực tiếp bán hàng được phản ánh đầy đủ”, bà Trâm nói.
Theo bà, thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối và khâu trực tiếp vận hành cửa hàng có chức năng, cấu trúc chi phí và khả năng thương lượng rất khác nhau. Trong đó, cửa hàng là nơi trực tiếp phục vụ người tiêu dùng và phải tự trang trải toàn bộ chi phí vận hành tại điểm bán.
Thực tế, mức chiết khấu dành cho cửa hàng có thời điểm chỉ còn khoảng 200–400 đồng/lít, thậm chí thấp hơn. Nhân với một chuyến xe khoảng 24.000 lít, con số tổng có vẻ đáng kể, nên dễ dẫn đến nhận định rằng cửa hàng “đã có lãi”.
“Vài trăm đồng mỗi lít là nguồn để trang trải các chi phí đưa xăng dầu đến tay người tiêu dùng và duy trì hoạt động tại điểm bán, chứ không thể mặc nhiên coi toàn bộ là lợi nhuận doanh nghiệp được giữ lại”, bà Trâm nói.
Cửa hàng phải trực tiếp gánh chi phí vận chuyển, hao hụt, tiền lương và nghĩa vụ với người lao động, mặt bằng, điện nước, bảo trì thiết bị, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường, hóa đơn điện tử, kế toán, thuế và các nghĩa vụ tài chính khác. Các yêu cầu mới về hạ tầng số và kết nối dữ liệu là cần thiết, doanh nghiệp sẵn sàng thực hiện, nhưng cũng phát sinh thêm chi phí. Nhiều khoản vẫn phải chi trả thường xuyên, bất kể mức chiết khấu tại từng thời điểm cao hay thấp. Vì vậy, có những thời điểm cửa hàng phải bán hàng trong tình trạng nguồn thu từ hoạt động bán lẻ không đủ bù đắp chi phí thực tế, nhưng vẫn phải duy trì hoạt động và nguồn cung cho khách hàng.
Về quyền tự quyết giá, bà Trâm cho rằng, mục tiêu không nhất thiết là để doanh nghiệp tăng hoặc giảm giá.
“Cửa hàng xăng dầu không đặt vấn đề phải được bán giá cao hơn và vẫn tuân thủ các quy định về giá, kê khai giá, chịu sự giám sát của cơ quan quản lý. Điều chúng tôi mong muốn là chi phí của khâu bán lẻ được tính đúng, tính đủ. Khi có dư địa hợp lý, doanh nghiệp có thể chủ động giảm giá để cạnh tranh hoặc dành một phần cho các chương trình chăm sóc khách hàng. Khi đó, người tiêu dùng mới thực sự được hưởng lợi từ cơ chế thị trường”, bà nói.
Theo bà, quyền quyết định giá chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp có một biên độ kinh tế thực tế để quyết định. Nếu phần chi phí dành cho khâu bán lẻ đã bị thu hẹp gần hết trước khi hàng về đến cửa hàng thì dư địa thực tế của cửa hàng vẫn rất hạn chế. Về lâu dài, nếu khâu bán lẻ không đủ nguồn lực để duy trì hoạt động ổn định, người tiêu dùng và khả năng bảo đảm nguồn cung tại địa bàn cũng có thể chịu ảnh hưởng.
Bà Trâm kiến nghị dự thảo cần làm rõ cơ chế phân bổ chi phí của khâu bán lẻ trong chi phí kinh doanh định mức, trên cơ sở tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, thực tế của khâu trực tiếp bán hàng cho người tiêu dùng.
Tăng khả năng giám sát của cơ quan quản lý đối với giá bán buôn và mức chiết khấu thực tế giữa các khâu, để có cơ sở đánh giá việc phân bổ chi phí trong chuỗi có hợp lý hay không.
Khi chi phí kinh doanh định mức được điều chỉnh theo CPI, cần có cơ chế để phần điều chỉnh được phản ánh tương ứng tới khâu trực tiếp phát sinh chi phí, trong đó có bán lẻ, góp phần cân bằng lợi ích giữa các chủ thể và duy trì nguồn cung ổn định cho người dân.
Ở góc độ vĩ mô, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, việc trao quyền tự quyết giá có thể thúc đẩy cạnh tranh, tạo áp lực giảm giá và nâng chất lượng phục vụ. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào nguồn cung và mức độ cạnh tranh thực chất trên thị trường. Tại những địa bàn ít cửa hàng, người tiêu dùng có thể vẫn phải chấp nhận giá cao do thiếu lựa chọn.
Theo ông Lạng, quyền định giá cần đi cùng cơ chế hậu kiểm và minh bạch dữ liệu. Giá mua - bán, hóa đơn đầu vào - đầu ra, tồn kho cần được số hóa để cơ quan quản lý và người tiêu dùng có thể giám sát, phát hiện những bất thường về giá. Đồng thời, cần công khai dữ liệu giá trên một hệ thống tập trung để tăng tính minh bạch.
Xăng dầu là mặt hàng thiết yếu và chịu tác động lớn từ thị trường thế giới, do đó Nhà nước vẫn cần công cụ điều tiết khi xảy ra cú sốc. Theo ông, doanh nghiệp phải duy trì mức dự trữ bắt buộc, trong khi Nhà nước cần có nguồn dự trữ chiến lược để ứng phó khi biến động vượt khả năng chống đỡ của thị trường.