Tình yêu của hai nhà văn lớn Jean-Paul Sảthe và Simone de Beauvoir:

Đau đớn dị thường

Họ nổi tiếng là một cặp đôi trung thành với nhau trong làng văn Pháp nhưng cũng đã bị tai tiếng bởi lối tư duy kỳ quặc trong tình cảm yêu đương. Rời khỏi cõi thế, họ giờ đây cùng an nghỉ trong một ngôi mộ dẫu không gắn bó với nhau bằng những mối ràng buộc của hôn nhân. Jean - Paul Sartre mất ngày 15/4/1980, còn Simone de Beauvoir mất ngày 14/4/1986. Đó là thông tin đã được khắc trên mộ chí làm từ đá trắng đặt tại nghĩa địa Montparnasse ở Paris.

Trẻ trung phá cách

- Simone đã chấp nhận tất cả các điều kiện của tôi, - với vẻ tự đắc, vừa nhấp rượu vang, Jean - Paul Sartre vừa nói với Paul Nizan, nhà triết học, nhà văn, người bạn thân từ thuở thiếu thời.

Nizan nhún vai, cố giấu đi sự ngạc nhiên và thất vọng. Anh cũng âm thầm mê mỹ nhân Simone suốt mấy năm nay, vậy mà nàng lại chấp nhận mọi điều kiện chắc chắn là rất oái oăm của Sartre… Nizan cố hỏi gặng bạn mình mọi chi tiết, vừa tò mò thích thú vừa đau nhói trong tim. Theo cách nhìn của Nizan, Sartre trông thật xấu mã: mặt đầy trứng cá, lại méo xệch, mắt lác, thêm vào đó, một mắt lại không nhìn thấy gì cả, tóc tai bù xù. Vóc dáng Sartre lại thấp bé, vai hẹp, bụng phệ…

- Đúng thế đấy, nàng đã chấp nhận mọi điều, - Sartre xoa tay đắc ý. - Và bọn mình đã thề yêu nhau mãi mãi.

Đối với một thiếu nữ vừa nhận được lời thề yêu đương mãi mãi, mỹ nhân Simone 21 tuổi tối hôm đó trông có vẻ như trầm tư và lặng lẽ quá. Vài giờ trước, cô gái thanh mảnh da ngăm ngăm này đã như bay trên đôi cánh với cái túi sinh viên tới nơi hẹn mà Sartre đã hẹn gặp cô.

Sartre là bạn đồng môn, từ không chỉ một năm nay đã để ý đến cô. Suốt cả kỳ nghỉ hè ở xa Paris , cô đã mơ ước cho thời gian trôi qua nhanh hơn để cô được gặp lại Sartre và anh rốt cuộc sẽ… Tới đây, dòng mộng tưởng của Simone bị đứt gãy… Tại sao lại "rốt cuộc sẽ"? Tỏ tình với cô ư? Anh ấy đã chẳng tỏ tình với cô thông qua Nizan rồi sao? Cầu hôn cô ư? Nhìn từ một góc độ, việc này rất dễ chịu đối với Simone: chẳng gì Sartre cũng là một sinh viên được đánh giá là thông minh và nổi tiếng nhất trong giới của cô.

Tại Trường Sư phạm Paris , nơi họ cùng theo học, xung quanh Sartre đã hình thành một nhóm khá đông những người hâm mộ và đệ tử ruột: mặc dù còn rất trẻ nhưng họ đã xây dựng được cả một hệ thống triết học riêng rất độc đáo. Nhưng nhìn từ góc độ khác, theo quan niệm của Simone, ngỏ lời cầu hôn chỉ có thể là một con người tầm thường nào đó chứ không thể là một người xuất chúng như Sartre.

Đau đớn dị thường ảnh 1

Jean - Paul Sartre và Simone de Beauvoir.

Bản thân cô, nhìn những người thiếu phụ có chồng, trước hết là mẹ mình, chứng kiến sự buồn tẻ trong đời sống hôn nhân của họ, đã từ lâu hôn nhân chỉ làm hại cho tình yêu đích thực mà thôi. Mà cô thì lại mơ ước về một cái gì đó khác trong quan hệ nam nữ.

Trong công viên nằm ở phía sau Viện Bảo tàng Louvre, hai người đã ngồi xuống cạnh nhau trên ghế đá. Trong không gian ngai ngái mùi khói - ở đâu đó gần đấy người ta đang đốt đống lá rụng.

- Simone à, - giọng rất nghiêm ngắn, Sartre nói. - Anh đã suy nghĩ kỹ về quan hệ giữa hai chúng ta, và anh thấy rằng, em xứng đáng với lời cầu hôn của anh.

Simone toát hết mồ hôi ở tay, tim đập thình thịch. Trong lúc đó, Sartre lôi từ trong túi ra mấy tờ giấy đã được gấp sẵn.

- Thế này nhé, làm đám cưới và cùng sống dưới một mái nhà, theo anh, đó là sự ngu ngốc và thô thiển mang tính tư sản mà anh cho rằng, chúng ta sẽ không bao giờ làm thế, - Sartre nói một cách dứt khoát.

Simone khoan khoái gật đầu. Đúng rồi, anh vẫn chưa làm cô thất vọng. Nghe tiếp câu nói của Sartre về việc anh không muốn có con vì đó là việc tốn thời giờ vô nghĩa và vô ích, Simone lại càng hài lòng hơn vì cảm thấy ý nghĩ của anh sao mà trùng với của cô đến thế.--PageBreak--

Ngay từ thuở ấu thơ, Simone đã ghét giới tính của mình. Có lẽ việc này diễn ra do lỗi của người cha, luật sư Georges Bertrand de  Beauvoire, đã quá thất vọng khi thấy đứa con đầu lòng của mình không phải là trai mà lại là gái. Tại ngôi nhà ngoại ô ở gần Paris , người cha đã giấu vợ để dạy cho cô con gái trưởng những trò chơi của các cậu bé.

Niềm vui chiến thắng đầu tiên đã tới với cô bé Simone 10 tuổi khi cô giành được thế thượng phong trước các cậu con trai cùng lứa trong cuộc thi bắn cung. Đám con tai ấy đã phải trầm trồ trước cô làm sao! Cậu em họ Jacques, trước đó vẫn hay giật tóc cô trêu trọc, sau sự kiện này đã tới nài nỉ Simone huấn luyện bắn cung cho mình.

Simone cho tới hôm nay vẫn nhớ như in câu nói của người cha khi cô tốt nghiệp cuối năm không phải ở vị trí thứ nhất: "Con cũng chỉ đầu óc gà vịt như mẹ con!". Trong đời mình, Simone sợ nhất là giống như mẹ, một người phụ nữ thượng lưu tự mãn, chỉ quen miệng nói những chân lý hiển nhiên, không bao giờ đọc thêm một cuốn sách nào khác ngoài Kinh Thánh.

Năm 13 tuổi, một lần Simone cùng với Jacques trèo lên tầng áp mái đầy bụi của ngôi nhà ngoại ô. Tại đó, cô bé xúc động tiết lộ cho người anh họ điều bí mật nhất của mình: "Anh đừng nói với ai nhé. Em đã quyết định không làm con gái nữa". Jacques nhìn cô em họ đầy khâm phục. "Em quyết định sẽ làm mọi việc như bọn con trai. Sẽ đánh nhau…". "Cái ấy thì cô thạo quá rồi còn gì!" - Jacques làu bàu. "Em còn quyết định sẽ không bao giờ sinh con và sẽ trở thành một nhà văn nổi tiếng"…

Được khích lệ bởi thái độ tán đồng của Simone, Sartre tiếp tục đọc những điều khoản về các việc mà hai người sẽ cùng phải làm: luôn luôn phải ở bên nhau và coi mình thuộc về nhau trên hết mọi sự và sẵn sàng vứt bỏ các chuyện khác nếu người này cần có người kia ngay lập tức.

Ngoài ra, họ không được có điều gì bí mật đối với nhau và phải chân thành kể cho nhau nghe mọi chuyện như trong buổi xưng tội trong nhà thờ hay như bệnh nhân kể với bác sĩ tâm lý trị liệu (nói tới đây, giọng Sartre bỗng xuất hiện nét châm biếm vì anh không thể nào chịu nổi học thuyết của Freud).

- Và điều cuối cùng, - giọng Sartre hơi lạc đi một chút. - Phải tuyệt đối tự do về tình dục.

Một tiếng động mạnh khiến hai người phải ngẩng đầu lên: cách đấy không xa, trong đám lá khô có một đôi trẻ đang ôm hôn nhau say đắm, không để ý gì tới xung quanh.

- Họ sẽ chỉ được một hai năm luôn nằm ngủ chung giường rồi sau đó, thay vì những nụ hôn, lại chỉ muốn đâm dao vào nhau thôi, - Sartre cay nghiệt nhận xét như thể anh đã 60 tuổi chứ không phải đang 25 tuổi. Simone đang bất giác hơi ghen tị với đôi trẻ bỗng giật mình như tỉnh ngộ.

Nói cho cùng, thực ra cô đã hy vọng vào một điều gì khác từ cuộc gặp gỡ này - vậy mà anh ấy lại quên cả hôn cô. Nhưng thôi, chỉ những kẻ tư sản mới bắt đầu cuộc gặp gỡ bằng những cái hôn, còn Sartre không làm việc đó thì mới là Sartre! Bù lại, mối quan hệ giữa họ sẽ là vô tiền khoáng hậu. Chẳng lẽ đó không phải là điều mà cô đã mơ ước cả đời ư!

Lúc đó, Simone cũng không hình dung rõ lắm việc "tuyệt đối tự do về tình dục" là thế nào. Bản thân cô lúc đó không hề cảm thấy cần nó và cô hy vọng là đối với Sartre thì cũng thế.

 Nhưng một khi khái niệm "tự do" nằm ở trung tâm hệ thống triết học của Sartre thì rõ ràng là anh không thể không nhắc tới nó. Những câu nói của Sarte vang lên hài hòa và quyến rũ - trong nghệ thuật này không thể có ai sánh được với anh, và Simone nghe anh nói với vẻ thán phục thường có. Đàn bà ai chẳng yêu bằng tai? Nếu thế thì Simone sẵn sàng giống như mọi người phụ nữ khác, nhưng chỉ trong việc này thôi nhé.

Jean - Paul Sartre và Simone de Beauvoir với Che Guevara.

Jean - Paul Sartre và Simone de Beauvoir với Che Guevara.

Nhưng một khi khái niệm "tự do" nằm ở trung tâm hệ thống triết học của Sartre thì rõ ràng là anh không thể không nhắc tới nó. Những câu nói của Sarte vang lên hài hòa và quyến rũ - trong nghệ thuật này không thể có ai sánh được với anh, và Simone nghe anh nói với vẻ thán phục thường có. Đàn bà ai chẳng yêu bằng tai? Nếu thế thì Simone sẵn sàng giống như mọi người phụ nữ khác, nhưng chỉ trong việc này thôi nhé.

Người cha, luật sư Georges Bertrand de  Beauvoire, đã nổi cơn tam bành khi hay tin con gái mình đi học triết. Thử hỏi, có gã đàn ông nào ở trên đời lại cần một cô vợ là triết gia? Nhưng Simone lại thích làm cho cha mẹ mình, những thị dân tư sản đứng đắn nhưng thiển cận, phải cáu lên - trong môi trường của Sartre tất cả đều khinh những khái niệm như tiền bạc, tài sản hay phong cách thượng lưu…

Tới nhà của luật sư Georges Bertrand de Beauvoire, Jean - Paul Sartre thường mặc áo sơ mi đỏ, cố tình nhấn thiện cảm của mình đối với các tư tưởng tả khuynh, truyền bá chủ nghĩa Marx rất mạnh bạo, còn cô con gái Simone lại cứ há hốc miệng ra, gật gù nhìn anh nói đầy thán phục. Thật quá thể!

- Bạn trai con là dân vô sản à? - người cha khó chịu hỏi.

Sự thực không phải thế. Cha của Jean - Paul Sartre là một sĩ quan hải quân, đã hy sinh khi cậu con trai mới lên một. Người mẹ về sau đã đi bước nữa với nhà doanh nghiệp nổi tiếng Joseph Mancy theo tư tưởng hữu khuynh. Cũng giống như Simone mơ ước không có gì giống mẹ mình, Sartre đã mơ ước không có gì giống như bố dượng mình.

Ông Mancy rất hay giễu cợt ngoại hình lạ thường của Sartre và luôn nói với khách khứa bằng cái giọng oang oang (để Sartre cũng phải nghe thấy) rằng đứa con riêng của vợ ông trông cứ như thằng gù ở nhà thơ Đức Bà Paris và ông rất muốn trông thấy cái cô gái nào yêu được cậu ta…--PageBreak--

Cũng rất oái oăm là, mặc dù tướng mạo mình trông chẳng giống ai nhưng Sartre ngay từ nhỏ chỉ mê gái đẹp. Nhan sắc thanh lịch của Simone đã hấp dẫn Sartre chẳng kém gì trí tuệ sắc sảo, hoàn toàn không điển hình với nữ giới, của cô.

Và bản hợp đồng yêu đương mà anh đã trình bày với cô hoàn toàn không phải là trò tán tỉnh gây ấn tượng hay phương thức "tấn công" mạo hiểm như một số người bạn của anh nghĩ, mà là một việc làm đã được Sartre suy nghĩ cẩn trọng và nghiêm túc, như khi anh suy nghĩ các tư tưởng triết học của mình.

Anh đã tinh tường nhận thấy tâm hồn tri kỷ ở Simone: nàng cũng đang khao khát được sống đúng như nàng muốn, sẵn sàng "thách đấu", như cách nàng diễn tả, cái phận đàn bà thông thường…

Sau khi tốt nghiệp đại học, Sartre và Simone đi dạy triết học ở những thành phố khác nhau, nơi còn có chỗ làm, để kiếm sống: cả hai người đều đã từ chối nhận tiền giúp đỡ của các phụ huynh. Simone tới Marseille, còn Sartre tới Le Havre . Vì thế, chỉ dăm bữa nửa tháng hai người mới gặp nhau được một lần. Bù lại, họ đã viết thư cho nhau rất nhiều.

Đọc những lá thư dài dằng dặc của Simone, Sartre đã rất ngạc nhiên: thay vì sáng tác tiểu thuyết, người đẹp của anh lại chỉ bận tâm tới những việc tầm phào - nào là buồn nhớ anh, rồi vì sao ngày nghỉ nào cũng leo lên những ngọn núi thấp lè tè ở ngoại ô Marseille…

Simone viết kể rất chi tiết về việc cô dậy vào lúc 5h rồi vai đeo ba lô, đã cầm bản đồ theo mình rời nhà leo lên bất cứ một ngọn núi nào mà cô gặp ở ngoại ô Marseille. Có ngày cô ở trên đường 10 giờ không nghỉ và vượt một đoạn đường dài tới 25 dặm.

Những cuộc đi bộ đơn điệu và dai dẳng cộng với việc ngắm những đám mây bay trên trời rộng cùng những cánh rừng giúp cô nguôi ngoai nỗi buồn đơn lẻ. Đã vài lần cô bị lạc trong núi và quanh đi quẩn lại vẫn quay về lối cũ. Có lần cô còn bị sa vào một bụi gai làm cô xước cả mặt và suýt nữa cô bị mùi hương quái quỷ của nó làm cho ngất đi…

Simone trong thư đã thẹn thùng thú nhận với Sartre rằng, cô cũng bị ràng buộc bởi định mệnh tự do của mình như một tù nhân bị giam cầm. Những tiết giảng bài của cô ở Marseille không nhiều, giao du chẳng có ai vì học sinh thì còn nhỏ, còn các nữ đồng nghiệp thì lại ngốc như cừu, mà Sartre thì lại ở xa.

Nếu Sartre tin vào học thuyết của Freude thì hẳn anh đã thấy trong những chuyến lên núi lạ lùng của Simone một ẩn ức dễ dẫn tới tự vẫn, nhưng anh lại thích nhìn thấy trong đó thói vô công rồi nghề của đàn bà và đã mắng mỏ cô rất dữ.

Một lần, Sartre viết loáng thoáng trong thư rằng anh đi Berlin vì ở đó anh có một "chuyện tình nho nhỏ". Vài ngày sau, nhìn thấy Simone bên ngưỡng cửa căn phòng trọ bé xíu của anh ở một khách sạn hạng tồi của Berlin , Sartre đã kinh ngạc huýt sáo to và bỏ sang bên tập bản thảo viết dở của mình.

- Liệu việc giới thiệu vợ mình với các nhân vật của những "chuyện tình nhỏ nhỏ" có nằm trong hợp đồng yêu đương của chúng ta không? - cô thốt lên thay câu chào hỏi.

- Em có ý gì vậy? - Sartre làu bàu. - Này em, anh đã phát hiện ở đây cho mình triết gia Husserl. Rất vĩ đại, em nhất định sẽ phải đọc!

Rồi anh uể oải nói thêm, đúng là ở đây anh có chuyện giăng hoa với một cô Mari Gerard nào đó, vợ của một sinh viên sở tại người Pháp. Đó là một thiếu phụ xinh đẹp, lề mề; anh thích nhìn cách cô ta đưa điếu thuốc lên môi; trong đôi mắt cô ta hiện rõ sự mơ mộng và dửng dưng với mọi sự bèo trôi nước chảy…

Sartre, như thường lệ, nói rất hấp dẫn. Simone cảm thấy trái tim trong ngực mình đang thắt lại, còn lòng hai bàn tay bỗng trở nên băng giá và vã hết mồ hôi. "Không được bật khóc!" - cô tự ra lệnh cho mình, bấm móng tay sâu vào lòng bàn tay như từng làm như thế ngày thơ bé mỗi khi bị cha mắng mỏ và lòng kiêu hãnh không cho phép cô rớt lệ.

Ngay tối hôm đó Sartre đã cố sức để đẩy Simone tới ký túc xá làm quen với cô Mari kia. Mỹ nhân tóc nâu nhìn Simone với vẻ hững hờ.

- Vợ hả?  - cô ta hỏi Sartre. Rồi quay sang nói với Simone: - Này, chị ít ra cũng phải dạy anh ấy cách yêu đương chứ. Nằm trên giường với anh ấy nhạt nhẽo đến mức chỉ muốn nhìn lên trần nhà mà đếm ruồi thôi…

Sartre có lần đã khoe khoang với bạn bè rằng hợp đồng yêu đương giữa anh với Simone đã chịu đựng được thử thách với thời gian: trong 10 năm dạy học ở những thành phố khác nhau, tình bạn giữa họ đã không hề bị sứt mẻ. Họ vẫn tâm đầu ý hợp như trước kia và cùng nhau kiên trì tiến tới mục tiêu đã định: năm 1938, tác phẩm "Buồn nôn" của Sartre đã được xuất bản và mang lại cho anh danh tiếng quốc tế, còn Simone đã hoàn thành tiểu thuyết "Người khách nữ".

Cứng tuổi vẫn vô tư

Vào khoảng năm 1937, cặp đôi dị thường này đã về cùng tá túc ở Paris , khi họ đều tìm ra công ăn việc làm ở thủ đô Pháp. Nơi họ đến hàng ngày là quán cà phê lừng danh "Ba chàng ngự lâm" trên đường Maine . Thường là có tới hàng chục người hâm mộ Sartre cũng kéo tới đó để ngồi nghe ông nói và cùng nhau cao đàm khoát luận.

Áo phông lấm bụi, mũ đội lệch, giày mỗi bên mỗi màu… Ngoại hình của Simone hầu như không thay đổi, họa chăng trông chị chỉ có vẻ khắc kỷ hơn. Chị không mấy quan tâm đến trang phục vì theo chị, quần áo không phải thứ đáng để ta dùng mà bộc lộ cá tính.

Tới một thời điểm nào, họ quen đi đâu cũng có ba người: Sartre, Simone và người thứ ba (mọi người xung quanh đều biết rõ) là cô nhân tình trẻ của tác giả "Buồn nôn".  Trong những năm 30 của thế kỷ trước, vai người thứ ba là cô Olga Kozakevich, con gái của những người Nga tị nạn, vốn là học trò của Simone.

Olga hành xử rất phóng túng, thích là ngồi vào lòng Sartre ngay, tay vung vẩy lắm khi lòng điếu thuốc cháy đỏ dụi vào tay hay trán nhà văn. Simone điềm nhiên như không khi thấy những cảnh đó và tiếp tục các cuộc tranh luận triết học của mình.

Một lần, nổi cáu vì Sartre không chịu rót thêm rượu sâm panh cho cô, Olga đã giật tung cả khăn trải bàn, làm chén cốc trên đó rơi hết cả xuống đất.

- Chỗ của cô là ở quầy rau! - nổi điên vì bị cắt ngang mạch tư duy, Sartre quát lên. - Cứ đợi đấy, sẽ có lúc vợ chồng tôi sẽ đuổi cô đi.

Olga bỗng chớp chớp mắt như trẻ thơ và như thế muốn tìm sự che chở, đã sà vào lòng Simone. Chị ôm lấy Olga và vừa xoa xoa tay cô gái vừa nói những lời dịu dàng. Đám thanh niên vây quanh họ bỗng há hốc hết cả mồm ra…

Sau này thay thế Olga là cô em ruột của nàng, Vanda… Rồi tiếp theo tình nhân của Sartre là những mỹ nữ như Camille Anderson, Byanka Binenfeld… Cả hai cô gái sau đều từng là học trò của Simone ở trường trung học tại Paris

Sartre không ngừng tìm kiếm những tình nhân trẻ mới nhưng chỉ có Simone mới là người phụ nữ mà ông nhìn thẳng vào mặt, còn các cô gái khác thì ông chỉ nhìn từ vai trở xuống… Bởi vậy, mặc dù Simone rất rộng lượng với các tình nhân của Sartre nhưng nhìn chung, các cô gái này đều âm thầm hoặc công khai đố kị đến mức oán chị.--PageBreak--

Mật đắng thiên thu

Tất nhiên, dù là nữ văn sĩ lừng danh có nhiều tư tưởng tân tiến, nhưng khi đối diện với chính lòng mình, lắm lúc Simone cũng buộc phải cay đắng nhận ra rằng, dù sao thì bà cũng chỉ "nữ nhi thường tình".

Và một khi Sartre "ăn chả" triền miên như thế thì dù có yêu ông đến đâu, bà vẫn không thoát khỏi những lần chính bà cũng đi "ăn nem". Và đã có những lúc bà quá đà, sa vào cả những  mối quan hệ thể xác biến thái, không lành mạnh…

Tuy nhiên, dù thế nào thì Simone cũng không rời bỏ Sartre, vì "đây là người đàn ông đầu tiên của đời tôi", như bà đã có lần lý giải với một người tình của bà khi anh hỏi vì sao bà không tự dứt áo ra đi. Cả hai người tự an ủi mình rằng họ chung thủy với nhau theo cách của riêng họ, không giống phần còn lại của nhân gian.

Chính những mối quan hệ phức tạp và bất bình thường đó đã khiến cặp đôi danh giá Sartre và Simone trong một thời gian đã bị xã hội thượng lưu lảng tránh, dè bỉu. Cái mà hai người gọi là "cuộc hôn nhân lý tưởng" đã trở thành chủ đề thường xuyên bị nhạo báng ở Paris .

Mặc dầu vậy, cả Sartre và Simone đều không ngừng sáng tạo. Năm 1943, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, Sartre cho xuất bản một trong những tác phẩm chính yếu của ông, "Tồn tại và hư vô", và công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh có thể coi như là hoàn thành.

Rồi Sartre đã bị phát xít Đức bắt giam vào trại tù binh. Sân khấu đầu tiên công diễn vở kịch "Con ruồi" của ông lại là một lán gỗ bị vây giữa những hàng rào dây thép gai. Nhờ những sự kiện tình cờ kỳ diệu, cuối cùng ông cũng thoát được ra ngoài. Trở về thành Paris đang bị phát xít Đức chiếm đóng, Sartre đã tích cực tham gia vào phong trào kháng chiến.

Tuy nhiên, ông vẫn không tránh được khỏi những tin đồn và những lời bôi bác trong dư luận và cũng không thể ra công khai biện bạch cho mình. Simone đã dũng cảm đứng lên bảo vệ danh tiếng của Sartre, viết nhiều bài báo, trả lời nhiều cuộc phỏng vấn…

Sau chiến tranh, cả Sartre và Simone đều đạt được đỉnh cao danh vọng của mình. Các cuốn tiểu thuyết và các công trình nghiên cứu triết học đã củng cố vị thế "trưởng môn phái" của họ trong chủ nghĩa hiện sinh. Người đời gọi Simone là "Notre Dame de Sartre" (Đức bà của Sartre).

Vị trí thứ hai trong cặp đôi không hề khiến Simone cảm thấy phật ý mà trái lại, trong bất cứ một tình huống thuận lợi nào, Simone đều nhấn mạnh rằng, Sartre là một nhà triết học vĩ đại, còn bà chỉ đơn giản là một nữ văn sĩ được sáng thêm lên nhờ những hào quang của một thiên tài. Đầu những năm 50 của thế kỷ trước đã xuất hiện tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Simone "Giới thứ hai".

Những quan niệm mà Simone đưa ra lúc đó quả thực đã quá mạnh bạo, thậm chí mang tính cách mạng. Thí dụ như cách bà nói về nhà thờ: làm sao có thể cấm phụ nữ nạo thai trong lúc lại khuyến khích đàn ông mang súng ra chiến trường bắn giết nhau? -  bà công phẫn đặt ra câu hỏi…

Năm 1954, Simone xuất bản tiểu thuyết "Les Mandarins" và nhờ nó đã được trao giải thưởng văn học danh giá Goncourt. Những chương đầu trong tập hồi ký của bà, xuất bản năm 1954, đã khiến độc giả sững sờ vì sự chân thành và cởi mở kể về mối quan hệ với Sartre.

Năm 1964, Sartre từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp và cả giải Nobel văn chương mà Viện Hàn lâm Thụy Điển trao cho ông. Tuy nhiên, về sau, nghĩ lại, ông đã nhận giải Nobel văn chương vì "tiền không bao giờ là thừa".

Cho tới những năm 60, cặp đôi Sartre và Simone vẫn tiếp tục duy trì cuộc tình đầy dị thường của mình, một cuộc tình gắn bó bền chặt chỉ đơn thuần bởi sự gần gụi của tư tưởng.

Thế rồi, một người phụ nữ mới, cô bé người Do Thái Arlette Al Kaim từ Algérie tới đã xen vào đời sống của họ. Thoạt đầu, Simone vẫn bình chân như vại vì bà nghĩ, đó có lẽ cũng chỉ là một như muôn vàn các cô nhân tình trẻ ngẫu nhiên tới, ngẫu nhiên đi khác của Sartre thôi.

Thế nhưng, sau khi gặp Arlette Al Kaim rồi, Sartre đã bắt đầu tránh mặt Simone. Trước đây, ông vẫn tới chỗ chị làm việc nhưng giờ thì chỉ đi về nhà của Arlette Al Kaim. Ông thậm chí còn không đưa cho Simone đọc những tác phẩm mới của ông, viện cớ chúng còn dang dở…

Hai người phụ nữ bị dồn tới chỗ bắt buộc phải hận thù nhau. Nhưng đó mới chỉ là một nửa chén đắng đối với Simone. Năm 1965, Sartre đã quyết định nhận Arlette Al Kaim làm con nuôi nhưng giữ kín chuyện này.

Sau bao nhiêu năm gừng cay muối mặn cùng Sartre, Simone đã phải đau đớn chứng kiến cảnh di sản tinh thần và vật chất của người mà bà yêu quý, sùng mộ nhất dần dà lọt vào tay người đàn bà khác. Chính khi ấy, Simone cũng đã chọn con gái của một người bạn gái làm con nuôi và di chúc lại cho người này tiền của cũng như các tác phẩm của mình…

Năm 1970, Sartre lâm bệnh. Và Simone đã tới ngay bên cạnh để chăm sóc ông mà vẫn không dừng những lao động trí tuệ của mình. Sartre qua đời ngày 15/4/1980. Đám tang của ông có tới hơn 50 nghìn người tham dự. Đối với Simone, cái chết của Sartre là cú đánh trời giáng: bà trở nên tuyệt vọng đối với cuộc sống.

Những năm cuối đời, Simone chỉ ở trong căn hộ có cửa sổ mở về hướng nghĩa địa Montparnasse, nơi muôn đời an nghỉ của Sartre.

Rồi cuối cùng Simone cũng mất vào ngày 14/4/1986 tại một bệnh viện ở Paris . Sáu năm sau khi Sartre qua đời, đã chẳng có ai đến thăm bà kể từ trận ốm cuối cùng đó. Đi theo quan tài của bà ra nghĩa địa Montparnasse chỉ có dăm bảy người.

Vị bác sĩ ở nơi bà nằm những ngày cuối đời, đã kể rằng, trong suốt thời gian Simone đau ốm trong bệnh viện, không hề có ai dù chỉ là gọi điện tới hỏi han về bà: "Bà đã bị bỏ rơi đến mức chúng tôi bắt đầu nghĩ, chẳng lẽ đây lại là nữ văn sĩ Siomne de Beauvoir một thuở?".

Về sau con gái nuôi của Simone đã công bố tập thư của bà. Hóa ra là người chiến sĩ nổi danh trong cuộc đấu tranh về nữ quyền, luôn tỏ ra bất cần giới mày râu lại là người trong sâu thẳm tâm can muốn được trở thành dù chỉ là "nô tỳ phương Đông" cho người đàn ông mà mình yêu quý: "Em sẽ ngoan ngoãn, sẽ rửa chén bát, sẽ lau sàn, sẽ đi mua trứng, mua bánh quy, em sẽ không dám động tới tóc anh, má anh, vai anh, môi anh nếu không được anh cho phép…"

Khánh Hạ

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.