Cụ già túi vải ấy tên là Võ Hành. Ông Hành được bà con trong làng tặng cho 2 chức danh là thầy thuốc và thầy đồ dạy chữ Thánh hiền. Ông Đồ Hành đến với chữ Nôm như duyên nợ. Sinh năm 1930, không đỗ đạt ở trường nào dạy chữ Việt cổ này nhưng người và chữ nghĩa đã song hành cả đời ông. Lúc thiếu thời ông theo học chữ Hán Nôm với các bậc thầy nổi tiếng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, cho đến khi các cụ lần lượt qua đời, ông miệt mài tự học rồi trở thành người đọc thông viết thạo trong gia cảnh thanh bần.
Một trong những thành công lớn của ông là trích dịch bộ Trung Quốc y học đại tự điển ra tiếng Việt bằng tiền túi ít ỏi của mình chỉ với mục đích tìm hiểu về công dụng của từng loại thảo mộc và cách điều trị bệnh cứu người, hoặc chuyển những bài thơ Hán Nôm hay ra chữ Quốc ngữ tặng bạn bè để có dịp gặp nhau bình luận những án thơ hay như thông điệp của người xưa gửi gắm. Mới đây ông trích dịch quyển Từ Hải tự điển của Trung Quốc gửi đến Bộ Ngoại giao để giải thích vùng biên giới lãnh thổ của Việt Nam mà phía Trung Quốc đưa sai vào tự điển.
Ông đọc nhiều Hán tự, mang kiến thức giúp đời giúp người, truyền dạy cho con cháu những điều hay lẽ phải từ cái dũng của thánh nhân để học đến cái hèn của kẻ tiểu nhân và hàng thần để tránh. Ông tâm niệm rằng: yêu nước, ngoài hiểu biết về lịch sử hồn thiêng sông núi của cha ông, còn cụ thể hãy yêu chính gia đình mình, yêu con đường mình đi, yêu con người xung quanh mình ở, yêu cái cây mình trồng, con vật mình nuôi như hãy tu thân tề gia trước khi làm nên việc đại sự. Hàng ngày ông cần mẫn như con ong thợ, lặng lẽ đi tìm dược liệu thuốc
Ban ngày đèn thuốc trị bệnh giúp người, ban đêm ông Đồ Hành dạy chữ Hán Nôm. Học trò của ông là những người lớn tuổi, những viên chức đã về hưu, họ đến tìm ông để học thêm văn hóa Á Đông thông qua loại chữ tượng hình.
Ông nói “Ở nước ta, chữ Nôm được viết giả tá từ chữ Hán của Trung Quốc nhưng có thêm bớt nét và phát âm theo âm điệu của người Việt. Chữ Nôm là chữ của ông cha ta ngày trước, đó là chữ Việt cổ vì hình tượng chữ Nôm khi viết được viết ghép lại từ hai chữ là Khẩu và
Ví dụ như chữ PHÚ gồm nhiều bộ chữ ghép lại, gồm có chữ nhất, chữ nhân, chữ điền… có nghĩa là người giàu, phải có nhiều người làm, nhiều điền thổ và một ngôi nhà to. Như vậy rõ ràng thời ấy sự giàu có của một người chỉ có thể đi lên bằng nông nghiệp điều ấy góp phần minh chứng của một nền văn minh lúa nước. Chữ QUAN được kết hợp hai hình tượng là một người nhưng có hai khẩu, có nghĩa là trong chế độ vương quyền nếu ai muốn được làm quan không những là người học rộng mà còn ứng phó giỏi để giải thích và hướng dẫn dân làng. Trong khi chữ DÂN được ghép với hai chân người đi trước và chữ mồm và mắt được viết ở phía sau, có nghĩa là phàm là thảo dân chỉ biết chấp hành luật lệ của vua chúa, nhưng mồm và mắt luôn luôn theo dõi nhận xét kết quả công việc và đời tư của quan ở hậu trường một cách lặng lẽ…”
Có học được chữ xưa, được bàn luận chữ và nghĩa mới thấy mỗi nét chữ là một quá trình vươn lên của tiền nhân, để con người suy ngẫm và đối chiếu, liên tưởng đến đất và nước. Hồn chữ còn thể hiện lịch sử từng thời kỳ và những ký tự cũng thể hiện rõ sự thăng trầm vận nước để con người hiểu được nội tình quốc gia. Chính chữ viết bằng hình tượng từ những nét chấm phá của đời sống thực đã làm cho con người nhận biết lịch sử cha ông những người dựng nước. Đó cũng là một lập luận vì sao người Trung Quốc khi rời khỏi quê hương của họ đến các nước khác lập nghiệp đều giáo dục con cái biết giá trị đồng tiền và công sức lao động, đến đâu họ cũng xây dựng trường học để giữ gìn ngôn ngữ mẹ đẻ cũng như giúp đỡ nhau để cùng tồn tại ở quê người. Thảo nào những người Trung Quốc ly hương sống ở nước ngoài họ đoàn kết giúp đỡ và bảo vệ nhau đến thế!
Ngày và đêm, những người đến nhà ông thường là các vị khách không mời. Người ở làng đến xin ông chữ nghĩa, khách thập phương đến đàm đạo thơ văn, người có bệnh đến xin ông bốc thuốc. Có một điều lạ, ông đồ Hành dạy chữ cho ai cũng từ chối các khoản thù lao cho mình, điều ông cần là thông qua hồn chữ để hiểu biết thêm về hồn quốc túy, giữ gìn di sản cha ông trong một đất nước văn hiến. Đối với người bệnh không những ông không lấy tiền công và thuốc điều trị mà còn chỉ cho họ các loại dược liệu để họ đi tìm một cách ân cần. Ông muốn thông qua những hành động nhân văn này để kêu gọi những người trong làng hãy thương yêu nhau trong lúc cơ hàn.
Ông thường nói với mọi người: “Sống ở trên đời nên có cái tâm, nếu cái tâm bị đánh mất thì chỉ ngang hàng với động vật cấp thấp mà thôi. Cái tâm càng trong sáng thì giấc ngủ càng thảnh thơi. Đối với con người sống thiếu Tâm, khi chết có ai mang theo được tài sản gì ngoài tiếng thị phi để lại cho con cháu. Trên đời này có ai dùng của phi nghĩa để làm giàu 3 đời. Cuối cùng các thế hệ sau của họ đều phải trả giá đau thương, lịch sử vẫn còn để lại những chứng tích bi hùng về những gia tộc ấy trong cổ sử…”
Hiện nay, nguồn thu nhập của ông bà là hai sào chè và một mẫu bạch đàn sắp thu hoạch. Cuộc sống đời thường đạm bạc thiếu trước hụt sau, bữa ăn hàng ngày khiêm tốn, nhưng khi ra đường cả ông và bà tuy khoác trên người những quần áo cũ sờn gai đã ngả màu nhưng được nhiều người kính trọng ngả mũ cúi đầu. Khác với những đại gia thừa tiền thiếu chữ, sự giàu có đi lên của họ không có những nét chấm phá ngang dọc của chữ PHÚ. Vì vậy, những người dân lao động lương thiện tuy gặp họ giữa đường vẫn không có một lời chào hỏi, có thể họ không thấy vì trong chữ DÂN trong ký tự mồm và mắt được đặt ở phía sau. Nhưng khi các vị trọc phú đi qua, họ thường thầm thì với nhau bằng những thuật ngữ dân dã: “Ông này, bà này tôi lạ gì, hồi đó… và hồi đó…”
Sử sách xưa còn ghi lại rằng: “Đời hậu Lê, thời hưng thịnh nhất của Đại Việt, phép nước nghiêm. Năm Mậu Thìn 1448 vua Lê Nhân Tôn sau khi ra chiếu trảm những quan tham ô lậu thuế từ 5 quan tiền trở lên. Và cũng năm này, vua ban dụ: Những bậc quan liêm sau khi về hưu được cấp thêm một khoản tiền nhỏ gọi là tiền dưỡng liêm. Tuy chỉ vài quan nhưng đó là chiếu chỉ báo cho dân làng biết và còn hàm ý căn dặn các quan hãy giữ mình trong sạch trong những năm tháng cuối đời. Ở làng khi có hội kỳ yên hay lễ rước thần hoàng các vị quan này được bà con bái vọng như khai quốc công thần.
Ông Đồ Hành ít nói về những năm tháng oanh liệt thời trai trẻ của mình. Nghe những người thân trong dòng họ ông kể lại, cả ông và bà là cán bộ trong 2 thời kỳ kháng chiến. Sau năm 1975, nước nhà thống nhất cả hai ông bà được nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất sau đó lùi về ẩn dật, sống một cuộc đời trầm lặng bên vườn chè nương dâu, không một đồng lương hưu, không một lời đề nghị xin xỏ ban thưởng vật chất cho mình, cũng không công thần hoặc kể lể quá khứ…
Đó là cái tâm của người sĩ phu, những người đã hoàn thành sứ mạng của một công dân trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc bảo vệ được hồn thiêng sông núi của cha ông. Những người có tâm hay những bậc hiền sĩ biết mình nên tiến thoái lúc nào khi tự thấy không còn đủ khả năng để phục vụ cho dân cho nước theo từng thời kỳ, từng giai đoạn. Phải chăng đó là DANH NHÂN LÀNG!