Danh nhân làng

Tại một vùng quê lặng lẽ ở phía Nam Tây Nguyên. Thỉnh thoảng người ta gặp trên đường một ông già trên 80 tuổi đẹp lão râu dài, mặc bộ quần áo màu gụ đeo chiếc túi vải nâu bên người thong dong đi trên chiếc xe đạp cũ. Đôi khi cũng nhìn thấy ông ngồi trước hiên nhà của những bậc cao niên đàm đạo về cây thảo dược từ trong vườn nhà mình đến các loại thảo mộc hoang dã ở thiên nhiên. Lúc thì người ta thấy ông đi bộ thăm hỏi người ốm hoặc ngồi cặm cụi viết vài câu liễng bằng chữ Nôm tặng người quá cố…

Cụ già túi vải ấy tên là Võ Hành. Ông Hành được bà con trong làng tặng cho 2 chức danh là thầy thuốc và thầy đồ dạy chữ Thánh hiền. Ông Đồ Hành đến với chữ Nôm như duyên nợ. Sinh năm 1930, không đỗ đạt ở trường nào dạy chữ Việt cổ này nhưng người và chữ nghĩa đã song hành cả đời ông. Lúc thiếu thời ông theo học chữ Hán Nôm với các bậc thầy nổi tiếng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, cho đến khi các cụ lần lượt qua đời, ông miệt mài tự học rồi trở thành người đọc thông viết thạo trong gia cảnh thanh bần.

Một trong những thành công lớn của ông là trích dịch bộ Trung Quốc y học đại tự điển ra tiếng Việt bằng tiền túi ít ỏi của mình chỉ với mục đích tìm hiểu về công dụng của từng loại thảo mộc và cách điều trị bệnh cứu người, hoặc chuyển những bài thơ Hán Nôm hay ra chữ Quốc ngữ tặng bạn bè để có dịp gặp nhau bình luận những án thơ hay như thông điệp của người xưa gửi gắm. Mới đây ông trích dịch quyển Từ Hải tự điển của Trung Quốc gửi đến Bộ Ngoại giao để giải thích vùng biên giới lãnh thổ của Việt Nam mà phía Trung Quốc đưa sai vào tự điển.

Ông đọc nhiều Hán tự, mang kiến thức giúp đời giúp người, truyền dạy cho con cháu những điều hay lẽ phải từ cái dũng của thánh nhân để học đến cái hèn của kẻ tiểu nhân và hàng thần để tránh. Ông tâm niệm rằng: yêu nước, ngoài hiểu biết về lịch sử hồn thiêng sông núi của cha ông, còn cụ thể hãy yêu chính gia đình mình, yêu con đường mình đi, yêu con người xung quanh mình ở, yêu cái cây mình trồng, con vật mình nuôi như hãy tu thân tề gia trước khi làm nên việc đại sự.

Hàng ngày ông cần mẫn như con ong thợ, lặng lẽ đi tìm dược liệu thuốc Nam mang về so sánh đối chiếu để tìm tính năng tác dụng của từng nhóm. Trên đường đi điền dã hoặc thăm hàng xóm, ông phát hiện vườn nhà ai có cây thuốc quý, ông đều ghé vào thăm và căn dặn giữ gìn để khi cần sử dụng. Nhiều năm qua ông đã điều trị được cho bà con hàng xóm những căn bệnh hiểm nghèo mà Tây y chưa giải quyết được. Vườn nhà ông ít cây thuốc, nhưng ông nhớ được các loại thảo dược mọc rải rác các nơi mà ông đã từng gặp để chỉ bà con biết đến lấy.

Ban ngày đèn thuốc trị bệnh giúp người, ban đêm ông Đồ Hành dạy chữ Hán Nôm. Học trò của ông là những người lớn tuổi, những viên chức đã về hưu, họ đến tìm ông để học thêm văn hóa Á Đông thông qua loại chữ tượng hình.

Ông nói “Ở nước ta, chữ Nôm được viết giả tá từ chữ Hán của Trung Quốc nhưng có thêm bớt nét và phát âm theo âm điệu của người Việt. Chữ Nôm là chữ của ông cha ta ngày trước, đó là chữ Việt cổ vì hình tượng chữ Nôm khi viết được viết ghép lại từ hai chữ là Khẩu và Nam có nghĩa là chữ viết của người nước Nam . Mẫu tự mới này được xử dụng trong khoa thi đầu tiên thời vua Đinh Tiên Hoàng (924-978) và cũng là lần đầu tiên Nhà nước ta ngày xưa xuất hiện thuật ngữ “Việt” trong tên nước Đại Cồ Việt. Hiện nay trên đất nước ta chữ Nôm đã chấm dứt gần cả trăm năm, nhưng nếu so sánh các loại mẫu tự trên thế giới, chữ Nôm là một trong những loại chữ được thừa kế cả chiều dài văn hiến của một đất nước. Mỗi nét chấm phá ngang dọc là sự đúc kết hình tượng cả triều đại. Nhìn chữ viết thể hiện trên giấy, có thể biết được từng giai đoạn của cả quá trình lao động sáng tạo của người xưa.

Ví dụ như chữ PHÚ gồm nhiều bộ chữ ghép lại, gồm có chữ nhất, chữ nhân, chữ điền… có nghĩa là người giàu, phải có nhiều người làm, nhiều điền thổ và một ngôi nhà to. Như vậy rõ ràng thời ấy sự giàu có của một người chỉ có thể đi lên bằng nông nghiệp điều ấy góp phần minh chứng của một nền văn minh lúa nước. Chữ QUAN được kết hợp hai hình tượng là một người nhưng có hai khẩu, có nghĩa là trong chế độ vương quyền nếu ai muốn được làm quan không những là người học rộng mà còn ứng phó giỏi để giải thích và hướng dẫn dân làng. Trong khi chữ DÂN được ghép với hai chân người đi trước và chữ mồm và mắt được viết ở phía sau, có nghĩa là phàm là thảo dân chỉ biết chấp hành luật lệ của vua chúa, nhưng mồm và mắt luôn luôn theo dõi nhận xét kết quả công việc và đời tư của quan ở hậu trường một cách lặng lẽ…”

Có học được chữ xưa, được bàn luận chữ và nghĩa mới thấy mỗi nét chữ là một quá trình vươn lên của tiền nhân, để con người suy ngẫm và đối chiếu, liên tưởng đến đất và nước. Hồn chữ còn thể hiện lịch sử từng thời kỳ và những ký tự cũng thể hiện rõ sự thăng trầm vận nước để con người hiểu được nội tình quốc gia. Chính chữ viết bằng hình tượng từ những nét chấm phá của đời sống thực đã làm cho con người nhận biết lịch sử cha ông những người dựng nước. Đó cũng là một lập luận vì sao người Trung Quốc khi rời khỏi quê hương của họ đến các nước khác lập nghiệp đều giáo dục con cái biết giá trị đồng tiền và công sức lao động, đến đâu họ cũng xây dựng trường học để giữ gìn ngôn ngữ mẹ đẻ cũng như giúp đỡ nhau để cùng tồn tại ở quê người. Thảo nào những người Trung Quốc ly hương sống ở nước ngoài họ đoàn kết giúp đỡ và bảo vệ nhau đến thế!

Ngày và đêm, những người đến nhà ông thường là các vị khách không mời. Người ở làng đến xin ông chữ nghĩa, khách thập phương đến đàm đạo thơ văn, người có bệnh đến xin ông bốc thuốc. Có một điều lạ, ông đồ Hành dạy chữ cho ai cũng từ chối các khoản thù lao cho mình, điều ông cần là thông qua hồn chữ để hiểu biết thêm về hồn quốc túy, giữ gìn di sản cha ông trong một đất nước văn hiến. Đối với người bệnh không những ông không lấy tiền công và thuốc điều trị mà còn chỉ cho họ các loại dược liệu để họ đi tìm một cách ân cần. Ông muốn thông qua những hành động nhân văn này để kêu gọi những người trong làng hãy thương yêu nhau trong lúc cơ hàn.

Ông thường nói với mọi người: “Sống ở trên đời nên có cái tâm, nếu cái tâm bị đánh mất thì chỉ ngang hàng với động vật cấp thấp mà thôi. Cái tâm càng trong sáng thì giấc ngủ càng thảnh thơi. Đối với con người sống thiếu Tâm, khi chết có ai mang theo được tài sản gì ngoài tiếng thị phi để lại cho con cháu. Trên đời này có ai dùng của phi nghĩa để làm giàu 3 đời. Cuối cùng các thế hệ sau của họ đều phải trả giá đau thương, lịch sử vẫn còn để lại những chứng tích bi hùng về những gia tộc ấy trong cổ sử…”

Hiện nay, nguồn thu nhập của ông bà là hai sào chè và một mẫu bạch đàn sắp thu hoạch. Cuộc sống đời thường đạm bạc thiếu trước hụt sau, bữa ăn hàng ngày khiêm tốn, nhưng khi ra đường cả ông và bà tuy khoác trên người những quần áo cũ sờn gai đã ngả màu nhưng được nhiều người kính trọng ngả mũ cúi đầu. Khác với những đại gia thừa tiền thiếu chữ, sự giàu có đi lên của họ không có những nét chấm phá ngang dọc của chữ PHÚ. Vì vậy, những người dân lao động lương thiện tuy gặp họ giữa đường vẫn không có một lời chào hỏi, có thể họ không thấy vì trong chữ DÂN trong ký tự mồm và mắt được đặt ở phía sau. Nhưng khi các vị trọc phú đi qua, họ thường thầm thì với nhau bằng những thuật ngữ dân dã: “Ông này, bà này tôi lạ gì, hồi đó… và hồi đó…”

Sử sách xưa còn ghi lại rằng: “Đời hậu Lê, thời hưng thịnh nhất của Đại Việt, phép nước nghiêm. Năm Mậu Thìn 1448 vua Lê Nhân Tôn sau khi ra chiếu trảm những quan tham ô lậu thuế từ 5 quan tiền trở lên. Và cũng năm này, vua ban dụ: Những bậc quan liêm sau khi về hưu được cấp thêm một khoản tiền nhỏ gọi là tiền dưỡng liêm. Tuy chỉ vài quan nhưng đó là chiếu chỉ báo cho dân làng biết và còn hàm ý căn dặn các quan hãy giữ mình trong sạch trong những năm tháng cuối đời. Ở làng khi có hội kỳ yên hay lễ rước thần hoàng các vị quan này được bà con bái vọng như khai quốc công thần.

Ông Đồ Hành ít nói về những năm tháng oanh liệt thời trai trẻ của mình. Nghe những người thân trong dòng họ ông kể lại, cả ông và bà là cán bộ trong 2 thời kỳ kháng chiến. Sau năm 1975, nước nhà thống nhất cả hai ông bà được nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất sau đó lùi về ẩn dật, sống một cuộc đời trầm lặng bên vườn chè nương dâu, không một đồng lương hưu, không một lời đề nghị xin xỏ ban thưởng vật chất cho mình, cũng không công thần hoặc kể lể quá khứ…  

Đó là cái tâm của người sĩ phu, những người đã hoàn thành sứ mạng của một công dân trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc bảo vệ được hồn thiêng sông núi của cha ông. Những người có tâm hay những bậc hiền sĩ biết mình nên tiến thoái lúc nào khi tự thấy không còn đủ khả năng để phục vụ cho dân cho nước theo từng thời kỳ, từng giai đoạn. Phải chăng đó là DANH NHÂN LÀNG!

Trần Đại

Các tin khác

Ấm lòng từ chuyện của Huy

Ấm lòng từ chuyện của Huy

Dũng cảm chặn xe ngang đường để đuổi bắt kẻ cướp tiệm vàng Sông Giang (số 99 Mễ Trì Thượng), Phan Quốc Huy, SN 1998 (trú tại Lương Sơn, Hoà Bình) đã bị đối tượng đâm trọng thương. Ngay tại thời điểm được người dân đưa đi cấp cứu, Huy vẫn dặn mọi người là "đừng báo cho mẹ em biết" và xin chủ tiệm vàng "cứ ứng trước tiền viện phí, ra viện em sẽ đi làm trả lại anh chị".
Chuyện về Thịnh thơ

Chuyện về Thịnh thơ

Chất độc da cam chỉ làm cho thể xác Thịnh biến dạng nhưng không đánh gục được tâm hồn nhạy cảm đến tinh tế, trái tim thổn thức nhịp đập yêu thương đầy bao dung, và trí tuệ minh mẫn, tinh thần cầu tiến của Thịnh.
Chàng kỹ sư bỏ nghề để làm "sống lại" đôi dép cao su

Chàng kỹ sư bỏ nghề để làm "sống lại" đôi dép cao su

Đôi dép cao su (dép lốp) đã gắn bó với những người lính trong suốt hai cuộc kháng chiến, đi cả vào những tác phẩm thi ca... Và hiện tại, đôi dép ấy đang được làm "sống lại", không chỉ với ý nghĩa là một hành trang không thể thiếu mà còn mong muốn nó trở thành một di sản.
Nhà toán học trẻ người Việt đầu tiên được vinh danh ở châu Âu

Nhà toán học trẻ người Việt đầu tiên được vinh danh ở châu Âu

Sau 8 kỳ giải thưởng chính thức của Hội Toán học châu Âu - EMS, lần đầu tiên một nhà toán học trẻ gốc Việt được vinh danh trong năm 2020. Đó là GS.TS Phan Thành Nam – một chàng trai sinh trưởng ở Phú Yên. Giải thưởng sẽ được trao tặng tại Đại hội toán học Châu Âu năm 2020, nhưng do ảnh hưởng đại dịch COVID -19 nên sự kiện này dịch chuyển đến tháng 6-2021.
Họa sĩ khuyết tật Đỗ Trọng Minh: Gửi sự sống vào những bức tranh

Họa sĩ khuyết tật Đỗ Trọng Minh: Gửi sự sống vào những bức tranh

Đang là một thanh niên khỏe mạnh với tương lai phơi phới, Đỗ Trọng Minh (SN 1984, trú tại tổ 3, khu 2A, phường Cẩm Thành, TP Cẩm Phả) bỗng chốc trở thành người tàn phế sau một lần tai nạn giao thông. Minh trải qua những năm tháng tận cùng tuyệt vọng nhưng rồi người đàn ông này đã vực lại chính mình bằng cách tìm đến với hội hoạ.
Cuộc đời đầy màu sắc của "tướng" Lê Công

Cuộc đời đầy màu sắc của "tướng" Lê Công

HLV Lê Công là nhân vật độc nhất vô nhị trong giới thể thao Việt Nam. Tốt nghiệp Đại học Thể dục thể thao với bằng HLV bóng đá nhưng cuối cùng, ông lại trở thành võ sư Việt Nam hiếm hoi có danh tiếng ở tầm quốc tế.
Robot made in Việt Nam ra đời... từ rác

Robot made in Việt Nam ra đời... từ rác

Dự án robot làm từ rác thải, nhóm bạn Robot Bank đã tạo cảm hứng cho nhiều bạn trẻ trong việc chung tay bảo vệ môi trường. Từ con robot khổng lồ đầu tiên, nhóm hy vọng sẽ thiết kế được một công viên để trưng bày những con robot làm từ phế liệu…
Chàng trai Tây Nguyên “Từ trường làng ra thế giới”

Chàng trai Tây Nguyên “Từ trường làng ra thế giới”

"Tôi muốn đi du học để khám phá thế giới rộng lớn bên ngoài, một thế giới to hơn ngôi làng của tôi, to hơn con đường từ nhà tới trường và từ nhà lên rẫy của tôi. Tôi muốn nhìn xa hơn những đồi cà phê xanh ngát", đó là tự sự của Đỗ Liên Quang ở bìa cuốn sách "Từ trường làng vẫn ra thế giới" của Quang.
Cô giáo khuyết tật và hành trình "truyền cảm hứng"

Cô giáo khuyết tật và hành trình "truyền cảm hứng"

Do di chứng của chất độc da cam nên từ khi sinh ra cơ thể chị Lê Thị Lan Anh, SN 1976 (trú tại khu Tân Bình, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Hà Nội) đã không bình thường như bao đứa trẻ khác. Nhiều người đã nghĩ "con bé này chắc chả sống được bao lâu". Thế nhưng, đứa trẻ năm nào đã chiến thắng số phận và không ngừng vươn lên để trở thành cô giáo dạy tiếng Anh. Với những đóng góp tích cực cho cộng đồng, năm 2019 chị Lan Anh đã được vinh danh trong lễ trao giải thưởng KOVA.
Độc đáo những bức tranh từ hạt gạo

Độc đáo những bức tranh từ hạt gạo

Từ những hạt gạo, với niềm đam mê hội họa, ông Nguyễn Tất Chiến (sinh năm 1968), ở thôn Đồng Nanh, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội đã thổi hồn vào những hạt gạo để làm nên bức tranh độc đáo.
“Độc thủ huyền cầm” bên sông Tiền

“Độc thủ huyền cầm” bên sông Tiền

Những năm tháng buồn tẻ của cuộc đời không ít lần đẩy ông vào suy nghĩ tiêu cực, muốn kết thúc số phận. Nhưng rồi tiếng đàn đã cứu rỗi tâm hồn của người đàn ông một tay này...
Các anh đã ngã xuống vì bình yên cuộc sống

Các anh đã ngã xuống vì bình yên cuộc sống

Thiếu tá Đặng Thanh Tuấn và Thượng sĩ Võ Văn Toàn, CBCS Đội Cảnh sát Giao thông / trật tự (CSGT-TT) Công an quận Sơn Trà ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, để lại nỗi đau xót, tiếc thương cho người ở lại...
Hành trình vẽ lên cuộc đời của cậu bé không tay

Hành trình vẽ lên cuộc đời của cậu bé không tay

Khác với người anh song sinh của mình, từ khi sinh ra, cậu bé Nguyễn Tiến Anh (SN 2010, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, TP Bắc Giang) đã thiếu đi đôi tay, thiếu những tia hy vọng về tương lai. Nhưng đổi lại, cậu bé lại có sự kiên trì, nhẫn nại hơn người, để tự vẽ lên ước mơ của cuộc đời mình.
Tấm lòng bồ tát của nữ “đại gia chân đất”

Tấm lòng bồ tát của nữ “đại gia chân đất”

Từ lời kêu gọi của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “cả dân tộc cùng chung tay đẩy lùi dịch bệnh COVID-19”, bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ - Giám đốc Công ty Bích Thuỷ (thuộc xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang (Bắc Giang) đã góp 50 tấn gạo ủng hộ các đơn vị tuyến đầu chống dịch.
Chuyện của một “nông dân trí thức”

Chuyện của một “nông dân trí thức”

Trong những “nông dân trí thức” tôi từng tiếp xúc, Nguyễn Thị Thu là người luôn làm tôi nể phục. Tôi ấn tượng với những cố gắng để mang đến cho người tiêu dùng sản phẩm an toàn, minh bạch của Thu. Song, hơn tất cả, điều khiến tôi luôn trân trọng, là việc chị đã và đang từng ngày nỗ lực lan toả tình yêu dành cho Đất Mẹ.
Người thầy đặc biệt và thư viện chào thế giới

Người thầy đặc biệt và thư viện chào thế giới

Mặc dù mới chỉ học lớp 8 và chưa một lần đứng trên bục giảng, nhưng anh Phùng Văn Trường, SN 1979, vẫn được người dân thôn Nhân Lý tôn trọng gọi là thầy. Anh không chỉ là người thầy đặc biệt truyền cảm hứng, mang ánh sáng tri thức đến với các em nhỏ trong thôn mà còn là người thầy về nghị lực sống.