Danh họa Tô Ngọc Vân: Học rồi mới phán

Danh họa Tô Ngọc Vân cất tiếng khóc chào đời ở Hà Nội nhưng quê gốc xứ Đông, xã Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Vừa là một trong những người có công đặt nền móng cho hội họa hiện đại nước nhà, vừa là một nhà lý luận nghệ thuật bậc thầy, Tô Ngọc Vân đã trải qua những tháng ngày sống và sáng tạo rất không dễ dàng, trong những năm tháng dân tộc và đất nước vượt lên những thử thách khắc nghiệt của thời kháng chiến.

Không phải mọi điều ông làm và nói đều được những người đồng thời hiểu đúng, nhưng Tổ quốc cuối cùng vẫn đánh giá đúng cống hiến to lớn của Tô Ngọc Vân. Ông là họa sĩ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên năm 1996. Tên họ ông được đặt cho nhiều con đường ở Việt Nam . Một ngọn núi lửa trên sao Thủy cũng mang tên ông…

Tài hoa sớm lộ

Tô Ngọc Vân sinh ngày 15/12/1906. Năm 20 tuổi, ông thi đỗ vào học khóa II Khoa Sơn dầu, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tới năm 1931, sau khi tốt nghiệp, mặc dù đã nổi tiếng và có tranh được giải thưởng ở Pháp nhưng ông đã phải lần hồi kiếm sống bằng chính nghề vẽ thuê và minh họa cho các báo. Rồi năm 1935, ông được bổ nhiệm là giáo viên dạy vẽ ở Phnom Penh . Năm 1938, ông chuyển về Hà Nội, dạy ở trường cũ…

Những tác phẩm đầu tiên của ông thiên về phong cảnh, tuy cũng thu hút được sự chú ý của xã hội nhưng phải tới đầu những năm 40 của thế kỷ trước, Tô Ngọc Vân mới thực sự được đánh giá cao với những bức tranh vẽ các thiếu nữ như Buổi trưaThiếu nữ bên hoa huệ (cả hai đều được vẽ năm 1943), Thiếu nữ bên hoa (1944)…

Ở Tô Ngọc Vân, những tri thức hội họa phương Tây đã kết hợp thực sự nhuần nhuyễn với cốt cách Á Đông và Việt Nam . Ông là một trong những họa sĩ người Việt hiếm hoi từng vẽ tem ngay trong thời Pháp thuộc. Những cảm xúc từ xứ sở Ăngco đã giúp ông tạo nên mẫu tem Ápsara. Đó là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam . Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam

Tô Ngọc Vân được đánh giá là một tài năng xuất sắc, một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim nóng bỏng nhiệt huyết và tình yêu quê hương, đất nước, có công đầu trong việc sử dụng sơn dầu vào hội họa hiện đại. Ông từng được xếp ở vị trí thứ ba trong câu truyền tụng về “tứ bất tử” của nền hội họa Việt Nam thế kỷ XX: “Nhất Trí” (Nguyễn Gia Trí), “Nhì Lân” (Nguyễn Tường Lân), “Tam Vân” (Tô Ngọc Vân), “Tứ Cẩn” (Trần Văn Cẩn)...

Họa sĩ chiến sĩ

Đi theo cách mạng, Tô Ngọc Vân cũng đã có những đóng góp nổi bật cho nền nghệ thuật nước nhà. Trong Phòng triển lãm hội họa kháng chiến 1947-1948, khai mạc ngày 18/7/1948 (ngày Văn nghệ trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc) có trưng bày tác phẩm của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Theo lời tường thuật trên Tạp chí Văn nghệ, “Tô Ngọc Vân cũng vận dụng cái đẹp của người con gái để diễn tả cảm xúc của mình. Trong bức tranh Thủ đô kháng chiến, họa sĩ dùng hình cô thiếu nữ để tượng trưng cho cái đẹp của Thủ đô...”. Những ký họa kháng chiến của ông đã mang đậm hơi thở nóng bỏng của thời cuộc nhưng vẫn toát lên những cảm xúc nhân văn sâu sắc.

Danh họa Tô Ngọc Vân còn là nhà lý luận lớn, đầy tự trọng về mỹ thuật. Ông quan niệm rất tỉnh táo và đúng mực về vai trò của hội họa: “Người ngoài nghề hội họa thường không rõ hội họa với văn chương tuy có nhiều đồng tính trên đất nghệ thuật, nhưng khả năng khác nhau và không thể thay thế lẫn nhau một cách thỏa mãn. Văn chương diễn đạt tư tưởng đến một chỗ tế nhị. Hội họa chỉ có thể khơi gợi tư tưởng mà không diễn đạt nổi. Thay tập Pensées của Pascal bằng tập tranh để người xem tranh thấu hiểu tư tưởng ông mà không đọc đến tập Pensées là việc cả thế giới hội họa đều chịu. Khi nhà họa sĩ xã hội đặt ở cùng bức họa người đói rách cạnh kẻ phú hào, ý thức về sự bất công trong xã hội có thể GỢI lên được. Còn truy tầm đến căn nguyên của vấn đề, thâm diễn mọi khía cạnh của nó, hội họa chịu. Kể lại một gương chiến đấu của ta trong cuộc vật lộn với kẻ thù ngày nay, văn chương có khả năng để làm. Hội họa chỉ có thể trình ra một cách chiến đấu để GỢI ý người xem. Hội họa so với văn chương bất lực để diễn ý, nhưng sở năng diễn TÌNH...”.

Hiểu biết sâu sắc về mỹ thuật thế giới nhưng Tô Ngọc Vân luôn lấy hồn vía dân tộc làm căn bản. Trong buổi thuyết trình trước Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày Văn nghệ 19/7/1948, Tô Ngọc Vân đã nói về sơn mài. Ông khẳng định: “Dư luận Âu châu thắc mắc hỏi: Hội họa nên hướng về đâu?

Chúng tôi đáp: Hướng về Việt Nam !

Hội họa thế giới, theo ý chúng tôi, sẽ thấy lối cải sinh cho mình trong sơn mài... Sơn mài được điêu luyện trong tay người Việt Nam , sẽ trao như kỷ niệm của những người đã chiến đấu cho tự do, hòa bình, trao sang tay các nghệ sĩ trên thế giới, góp một phần vào sự xây dựng một nền nghệ thuật mới cho nhân loại”.

Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ”.
Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ”.

“Tranh đấu bằng quân sự, chính trị để chứng tỏ chúng ta có khả năng sánh vai với các nước độc lập trên thế giới chưa đủ. Còn cần đoạt được tinh thần độc lập trong văn nghệ.

Công chúng mới của chúng ta không chỉ Việt Nam . Thành quách đô hộ bịt quanh tô giới nước Việt Nam đã sụp. Người thế giới đã nhìn thấy Việt Nam rồi. Giá trị địa phương không còn đủ là một giá trị hoàn toàn.

Muốn nói thứ tiếng văn nghệ quốc tế nhất là hội họa với một giọng độc lập, giới họa sĩ Việt Nam thấy cần phải hướng về tính dân tộc...

Chớ ai lấy nê sự giao thông ngày nay đã nối giòng liền những dân tộc khác tính và xa nhau, mà quan niệm một kiểu nghệ thuật thế giới xóa nhòa bản chất dân tộc...”. (Bài báo Bao giờ mới có hội họa Việt Nam, in trên Tạp chí Văn nghệ số mùa xuân năm 1949).

Đối với Tô Ngọc Vân, sáng tạo là quá trình phấn đấu, tu luyện không ngừng nghỉ. Ông tâm sự trên số tháng Tư năm 1948 Tạp chí Văn nghệ (Hội Văn nghệ Việt Nam) mà nhà thơ Tố Hữu làm Thư ký Tòa soạn: “Riêng phần tôi, mỗi bức xong là kèm theo bất mãn và có khi thất vọng. Tác phẩm lúc còn ở trong óc mình, sao nó đẹp và to thế! Mỗi bức tranh sinh sau là một sự cố gắng ước mong hơn để cố nhích một chút trên đường nghệ thuật. Bọn nghệ sĩ chúng tôi cứ thế mà đi, chưa hề tưởng mình đã “đến”, quan niệm sáng tác là lẽ sống của mình, là sự cần sống của mình. Còn câu chuyện “huy chương”, phỏng có trọng lượng gì?”.

Tô Ngọc Vân cũng xác định rất rõ về sứ mệnh của người nghệ sĩ. Trong bài viết đã dẫn trên Tạp chí Văn nghệ, tranh luận với học giả Đặng Thai Mai về tranh tuyên truyền và hội họa, ông đã nhấn mạnh:

“Để kết luận “vài ý nghĩ” của ông, ông Đặng Thai Mai nêu ra một vấn đề nghệ thuật mà ông coi là “chính”, ông hỏi: “Ta đã thiệt cảm thông với đề tài, với độc giả, với khán giả của ta chưa? Ta đã cầm chắc được những nhận xét thấu đáo về tri thức, về khoa học và bút pháp kỹ thuật cần cho sự biểu hiện của thiên tài chưa?”.

Nhưng tôi nói:

“Sống! Sống thêm nữa! Với đau khổ! Hứng cảm của mọi người!

Rồi sáng tác và sáng tác! Với tất cả tấm lòng thiết tha yêu mến”.

- Thế còn “thiên tài”?

- A, thiên tài. Thế anh sáng tác cho anh hay để làm thiên tài?”

Thật chí lý và hóm hỉnh!

Tô Ngọc Vân đã sớm bộc lộ quan điểm của mình về tính quần chúng trong hội họa nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung. Tháng 2/1949, trong báo Họa: Học hay không học?, ông đã đưa ra những bàn luận của cá nhân mình về bài viết của đồng chí Trường Chinh Mấy vấn đề thắc mắc về văn nghệ mà trong đó đã khẳng định: “Quần chúng là giám khảo sáng suốt nhất”. Cũng chính đồng chí Trường Chinh đã đặt ra câu hỏi: “Quần chúng có cần học nghệ thuật rồi mới phê bình được không?” rồi tự trả lời: “Thưa không… Bởi vì quần chúng gồm nhiều tai mắt, óc khôn và cảm giác chung đấu lại…”.

Thế nhưng, theo Tô Ngọc Vân, “quần chúng phải học nghệ thuật hội họa mới thưởng thức sâu rộng được hội họa, phải học tiếng nói của hình sắc mới nghe được hình sắc kể lể những gì. Có tai mắt, dù là của nhiều người, mà chỉ quen biết cái vỏ ngoài của bức họa; có óc không, dù là của số đông, dù khôn ở đâu đâu ấy, nhưng lạc vào một địa hạt bỡ ngỡ, xa lạ, có cảm giác; dù là của đại chúng, nếu không được luyện tập để đồng điệu với mỹ cảm, thời tai mắt, óc khôn, cảm giác ấy chưa có gì bảo đảm để hướng dẫn người chuyên môn hội họa trên đường sáng tác…”.

Và danh họa khẳng định: “Khi quần chúng đã gây dựng được vốn tri thức về hội họa rồi, quần chúng đủ lẽ để có quyền hưởng thụ, mạt sát hay ca tụng. Khi ấy, người họa sĩ sẽ tin cậy ở quần chúng, sẽ do nơi quần chúng mà kiểm tra sản phẩm của mình. Lúc đó thì, còn đâu là thắc mắc của người sáng tác đứng giữa hai cái mình phụng sự dân tộc đại chúng và phụng sự nghệ thuật, khi đó đã kết tinh thành một! Lúc ấy, họa sĩ sẽ tin tưởng: “Quần chúng là quan giám khảo... sáng suốt nhất”...

Để kín kẽ hơn trong lập luận khi đưa ra một ý kiến không trùng khít với lãnh đạo, Tô Ngọc Vân đã ý vị nhấn mạnh: “Thực ra ông Trường Chinh cũng không nghĩ khác tôi đâu. Ông đã nhận trình độ văn nghệ của quần chúng nước ta hiện nay kém. Khuyên nhà văn nghệ đừng “quên dùng tác phẩm của mình đưa trình độ nhân dân lên một mực cao hơn”. Ông đã đề ra một lối luyện học cho quần chúng. Tôi chỉ muốn thêm vào lối này một phần học hỏi dầy hơn, nhiều sự chú ý về hội họa nữa, và cái chất này cần lắm: một chút thân tình với hội họa”.

Bây giờ đọc lại nhiều bài viết của Tô Ngọc Vân, càng thấm thía sự đúng đắn và đúng mực của ông trong tư duy về nghệ thuật…

Danh họa Tô Ngọc Vân mất ngày 17/6/1954 tại Đa Khê, gần sát chiến trường Điện Biên Phủ

Minh Huyền

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.