Đại thi hào Anh G. Byron: Tình yêu và tranh đấu

Trong lịch sử văn học Anh, George Noel Gordon Byron (1788-1824) là một trong những danh nhân được đánh giá là hào hoa và lãng mạn bậc nhất. Nam tước thi sĩ này sinh ra ở London với tâm hồn thơ thiên phú nhiều sầu muộn và phóng túng. Và trong suốt cuộc đời, anh đã hành xử theo đúng phương châm mã thượng của một trang nam nhi chỉ yêu tự do và phụ nữ. Byron là tác giả của nhiều thi phẩm bất hủ như “Chuyến hành hương của Childe Harold”, “Tên cướp biển”, “Người tù của Chillon”, “Don Juan, thơ châm biếm sử thi”...

Thời thanh xuân, như mọi thi sĩ đích thực, George Byron đã sống hết mình với những đam mê lắm khi quá cuồng nhiệt, tới mức mù quáng. Không có thú vui nào anh không trải qua. Không có nỗi đau khổ tình yêu nào mà anh không nếm trải. Tới tuổi tam thập, Byron dường như đã thấm mệt sự đời. Anh không muốn con tim mình chỉ đau đớn vì tình yêu mà muốn hướng nó tới những cảm xúc to lớn và kỳ vĩ hơn. Anh muốn có những hành động phi thường không phải vì phụ nữ, mà vì những người bị  áp bức và đô hộ. Rời khỏi nước Anh năm 1816, Byron dấn thân vào hành trình bất tận của mình ở những xứ lạ. Và tại Italia, anh đã gặp Teresa Guiccioli.

Đấy cũng chính là người đàn bà cuối cùng mà Byron dâng hiến trái tim trong cuộc đời nhiều sóng gió của mình. Hai người làm quen với nhau ở Venice 4 năm trước chuyến lãng du cuối cùng của nhà thơ tới bến bờ Hy Lạp. Khi đó nàng - đã là thiếu phụ!- mới 16 tuổi, còn nhà thơ đã hơn ba mươi. Gần nửa thế kỷ sau đó, khi đại thi hào nước Anh đã trở thành huyền thoại lớn của cả thế giới, bà cụ Teresa Gambas (sau khi li dị với bá tước Guiccioli, mỹ nhân thuở nào đã lấy lại cái họ của cha mình) đã cho in một tập hồi ức dày về Byron. Với bà, Byron đã là biểu tượng của mọi sự tốt lành nhất: trong con mắt người thiếu nữ đang yêu, nhà thơ đẹp cả người lẫn nết, như một thiên thần!

Trong hồi ức của mình, bà Teresa đã khẳng định rằng, Byron không hề đi khập khiễng và chuyện nhà thơ bị thọt một chân chỉ là điều bịa đặt của kẻ thù - để chứng minh điều này, bà đã dẫn ra cả lời của người thợ giày từng đóng giày cho Byron (thực ra, sách cũ còn ghi, khi Byron còn nhỏ, nhà thơ tương lai rất hay bị bà mẹ dữ tính của mình diễu cợt công khai về cái chân vẹo). Teresa đã viết những dòng tràn trề tình cảm về giọng nói tuyệt vời, về đôi mắt, về mọi đức hạnh tinh thần của nhà thơ... ở tuổi 65, Teresa vẫn ngưỡng mộ nhà thơ như ở tuổi 16, khi mà vì Byron, nữ bá tước phu nhân trẻ trung này đã phải chịu hy sinh không ít: li dị với chồng rồi, Teresa chút nữa thì bị đưa vào nhà tu. Vì tình yêu với nhà thơ, Teresa đã bị mất cả vị trí xã hội lẫn của cải (dòng họ Guiccioli đã vô cùng giàu có), thậm chí còn bị trục xuất khỏi Italia... Thực ra hậu thế không nên trách móc Teresa: Không ai có lỗi cả khi thời gian trôi qua, những cặp tình nhân cũ chỉ nhớ về nhau ở những điều tốt lành và hoàn thiện nhất!

Byron đã làm thay đổi hẳn cuộc đời của  thiếu phụ Teresa - cả trong đời thường lẫn tâm tưởng. Nàng đã viết điều này với tất cả sự cởi mở rất thơ ngây cho nhà thơ ngay trong lá thư đầu tiên gửi anh và bộc lộ nỗi đau đớn khôn tả của mình vì phải rời Venice về Ravenna cùng chồng ngay sau khi vừa làm quen với nhà thơ.

“Nếu trước đây em lúc nào cũng chỉ nghĩ tới hội hè, thì giờ em lảng tránh mọi sự ồn ào, sống trong cô đơn để học nhạc, cưỡi ngựa và làm các việc nhà”- nàng viết.

Còn Byron viết cho nàng từ Venice:

Báu vật của anh... Nếu em  biết được tình yêu của anh đối với em lớn như thế nào thì hẳn em không bao giờ dám nghĩ là anh lại có thể quên lãng em dù chỉ trong khoảnh khắc. Em cần phải biết về anh rõ hơn - có lẽ, chỉ khi ấy em mới hiểu ra rằng, dẫu anh không xứng được có em nhưng anh yêu em thực sự.

Em hỏi, anh thích gặp những ai sau khi em đã rời đi, ai khiến anh xao xuyến, dẫu không được như em nhưng cũng gần gần như thế... Được rồi, anh sẽ nói: đó là ông già gác cổng mà bạn em đã sai mang tới cho anh những lá thư của em, khi em ở Venice - ông ấy giờ cũng vẫn mang tới cho anh thư em - những lá thư vẫn thân quý như cũ, dẫu không còn cho anh hy vọng được gặp em nữa ngay trong ngày, ở chỗ cũ. Em đang ở chỗ nào, Teresa của anh ơi! Mọi sự ở đây đều gợi nhớ về em - tất cả vẫn y nguyên, chỉ em là khuất bóng. Anh cũng vẫn ở đây. Trong cách trở, người rời đi ít khổ đau hơn người ở lại...

Báu vật của anh ơi! Cuộc đời anh luôn buồn rầu và đơn điệu; không có sách, không có âm nhạc, không có ngựa... Đám phụ nữ không lôi cuốn được anh... Trong những năm gần đây, anh đã cố tình lảng tránh những cảm xúc mạnh vì đã quá đau khổ vì tai ách của tình yêu...  Anh đã không muốn yêu ai và không còn hy vọng được ai yêu nữa. Nhưng giờ em đã phá hủy tất cả những cố gắng tĩnh tâm của anh; giờ anh đã nằm trong quyền lực của em rồi, anh sẵn sàng trở thành cái gì mà em muốn - có lẽ anh chỉ có thể hạnh phúc bởi tình yêu của em thôi, nhưng anh sẽ không còn bao giờ được biết tới sự bình an nữa. Lẽ ra em không nên làm trái tim anh thức dậy - bởi lẽ, cho tới hiện giờ (ít ra là ở tổ quốc của anh), tình yêu của anh luôn là sự bất hạnh đối với những người mà anh yêu và với cả bản thân anh nữa. Thế nhưng lần này, sự tỉnh trí đã tới muộn màng. Anh đã có em và dù kết cục thế nào thì anh cũng sẽ luôn là của em trọn vẹn.

Anh hôn em hàng nghìn, hàng nghìn lần...

Hãy yêu anh, người luôn dịu dàng và chung thuỷ của em. B.”.

Lá thư này viết bằng tiếng Italia.

Byron có lẽ không biết rằng, chính Teresa cũng đang héo hắt vì anh. Đến mức nàng đổ bệnh. Khi Byron đánh liều tìm tới Ravenna, anh bắt gặp nàng đang trong tình trạng liệt giường.

“Mình thực sự sợ rằng nàng mắc bệnh lao - Byron viết cho một người bạn - Chuyện như thế đã xảy ra với tất cả những ai mà tôi có cảm tình thực sự. Nhưng nếu điều bất hạnh xảy ra với nàng thì vĩnh biệt, trái tim của tôi ơi, đây sẽ là tình yêu cuối cùng của đời tôi. Những thú vui  mà trước kia tôi đã ham hố và giờ đang chán ngán, ít ra cũng mang lại cho tôi một điều có lợi là, cuối cùng thì tôi cũng cảm thấy được tình yêu theo cái nghĩa cao thượng nhất của từ này”.

Sau đó một thời gian, khi Teresa hồi phục và lại phải cùng chồng trở về điền trang của ông ta, Byron ngày nào cũng tới nhà nàng, buộc nàng phải mở hết các cửa sổ ra, đọc cho nàng nghe những cuốn sách yêu thích và còn viết cả bên lề sách nữa... Hiện nay vẫn còn lưu lại một cuốn sách trong thư viện của Teresa với những lời nhà thơ ghi:

“Teresa thân yêu của anh! Anh đọc cuốn sách này ở trong vườn nhà em. Em quý báu! Em đi vắng, vì khác đi thì anh chẳng có tâm trí đâu mà đọc. Đây là một trong những cuốn sách em ưa thích nhất, mà tác giả của nó lại là bạn anh. Em không hiểu những câu tiếng Anh này, những người khác cũng không hiểu chúng - đó là lý do khiến anh không viết chúng bằng tiếng Italia. Nhưng em sẽ nhận ra được nét chữ của người đang yêu em say đắm, và sẽ đoán được rằng, người ấy, ngồi cùng với một trong những cuốn sách của em, chỉ có thể nghĩ được về tình yêu. Trong cái từ này, tuyệt với ở mọi thứ tiếng nhưng tuyệt vời nhất ở trong tiếng Italia của em -amor mio- quy tụ toàn bộ sự tồn tại hiện nay và cả tương lai của anh nữa... Thỉnh thoảng hãy nghĩ tới anh, khi mà dãy Alpơ và biển cả chia rẽ đôi ta, nhưng không thể nào chia rẽ nổi một khi em không muốn điều đó”.

Tuy nhiên, bi kịch là ở chỗ, yêu Teresa, Byron vẫn không thể quên được khát vọng tham gia vào các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhà thơ  vẫn nuôi trong lòng mình mơ ước được tham gia vào công cuộc giải phóng Hy Lạp, quê hương của các thi nhân tiền bối khỏi ách thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ. Byron đã viết cho một người bạn: “Tôi đang có chuyện với một thiếu phụ trẻ, hoàn toàn vô tư, xinh đẹp và tốt tính... Thế nhưng, tôi cảm thấy - và cảm thấy một cách cay đắng rằng, con người ta không nên tiêu tốn đời trong vòng ôm và ở bên cạnh một phụ nữ, hơn thế nữa, một phụ nữ ngoại quốc; và phần thưởng nhận được từ nàng - dù không nhỏ - cũng không thể nào là đủ với anh ta...”.

Thế là, mặc dù lửa tình đang đượm, Byron vẫn rời Italia sang Hy Lạp chiến đấu. Ngày 30/12/1823, anh cập bến cảng Missolonghi. Dũng cảm, cao thượng và nhân văn, Byron rất được lòng người dân địa phương. Nhà thơ được bầu vào Ủy ban Giải phóng Hy Lạp và đã tham gia đấu tranh giải phóng đất nước này khỏi ách đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ. Và anh đã qua đời tại thành phố cảng nhỏ bé Missolonghi vì sốt rét và sự ngốc nghếch của những viên bác sĩ vườn. Hôm đó là ngày 19/4/1824. Bên cạnh Byron lúc đó chỉ có cô bé người Thổ Nhĩ Kỳ mà nhà thơ đã nhận làm con nuôi trước đó không lâu.

Còn Teresa ở lại Italia, dẫu không chết ngay vì thất vọng và thương nhớ nhưng cho tới phút cuối trong cuộc đời dài lâu của mình, vẫn không thể nào quên được những cảm xúc mạnh mẽ mà tình yêu với Byron đã gợi lên được trong lòng mình. Phải, dù kết cục cuộc tình với các thi sĩ có như thế nào thì những mỹ nhân cũng không phải ân hận, ngay cả những người không được nhà thơ ghi tên khắc hình vào những vần thơ bất hủ

Hoàng My

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.