Vén màn bí mật "Kế hoạch Đầu Sấm - Operation Thunderhead":

Cuộc xâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng tàu ngầm

Ngày 27-5-1972, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) nhận được nguồn tin từ Đại sứ quán của một quốc gia có quan hệ mật thiết với Mỹ, đặt tại Hà Nội, cho biết 2 sĩ quan không quân Mỹ là Đại tá John Dramesi và Đại úy Ed Atterberry, sau khi bị bắn rơi và bị bắt trong một phi vụ ném bom miền Bắc Việt Nam, đã trốn thoát khỏi một trại giam gần Hà Nội rồi lấy cắp một chiếc thuyền nan.

Vẫn theo nguồn tin này, cả John Dramesi lẫn Ed Atterberry đã xuôi dòng sông Hồng ra biển và đang ẩn náu tại một hòn đảo nhỏ nằm giữa tỉnh Nam Định và Thái Bình, cách bờ khoảng 500m.

Ngay lập tức, Trung tâm tìm kiếm và giải cứu của Hải quân Mỹ vào cuộc. Chỉ hai ngày sau đó - ngày 29-5-1972 - kế hoạch "Đầu Sấm - Operation Thunderhead" ra đời…

Lên đường

11 giờ trưa ngày 1-6-1972, tàu ngầm Grayback rời cảng Subic, Philippines để lên đường đến vùng biển miền Bắc Việt Nam với một sứ mệnh đặc biệt, được Hạm đội 7, Hải quân Mỹ đặt cho mật danh là "Kế hoạch Đầu Sấm - Operation Thunderhead" (Thunderhead là cách mà các phi công quân sự Mỹ dùng để gọi một loại mây, phần rìa thường phát ra sấm sét), theo sau nó là tàu hỗ trợ Squadron HC-7 và tuần dương hạm USS Long Beach, làm nhiệm vụ chỉ huy.

Trên tàu Grayback, ngoài thuyền trưởng là Trung tá John D. Chamberlain và thủy thủ đoàn, còn có 14 thành viên Trung đội Alfa, thuộc Đội 1 (Team One) lực lượng biệt kích SEAL của Hải quân Mỹ, dẫn đầu bởi Trung úy Melvin "Spence" Dry.

Thượng sĩ Philip L. "Moki" Martin, Trung đội phó Trung đội Alfa kể: "Chúng tôi chỉ có 4 tiếng đồng hồ để tập lái loại tàu lặn mini SDV và khi chiếc Grayback đã ra đến hải phận quốc tế, Trung úy Dry mới tập họp tất cả lại rồi phổ biến nhiệm vụ. Lúc ấy, chúng tôi mới biết mình sẽ xâm nhập vùng biển miền Bắc Việt Nam, mục tiêu là giải cứu hai phi công bị bắt nhưng đã trốn thoát".

Melvin "Spence" Dry khi được thăng quân hàm Trung úy.
Melvin "Spence" Dry khi được thăng quân hàm Trung úy.

SDV là tên gọi tắt của "Swimmer Delivery Vehice - Xe giao hàng của người bơi lội". Đây là loại tàu lặn tí hon, thân làm bằng sợi thủy tinh và không có buồng điều hòa áp suất nước biển khi phải xuống sâu. Nó có thể chở được 4 người nhưng tất cả đều phải mặc quần áo lặn, đeo bình oxy, ngồi trong khoang lái giống như người ta ngồi trong một chiếc ôtô mui trần. Nó dài 5,6m, rộng 2,6m, nặng 550kg. Được trang bị một động cơ điện chạy bằng ắc quy, chiếc SVD có thể di chuyển dưới nước với tốc độ tối đa 9km/giờ, lặn sâu 180m. Với những tính năng như thế, nó gần như tàng hình trước những máy dò tìm tàu ngầm (sonar).

Thượng sĩ Martin nói tiếp: "SVD thường được lực lượng SEAL sử dụng để bí mật xâm nhập những căn cứ quân sự nằm trên những hòn đảo hoặc bờ biển của đối phương. Tùy theo vị trí, địa hình đáy biển, các dòng hải lưu và thủy triều, tàu ngầm thả chúng tôi ở độ sâu 20 đến 30m rồi cứ 4 người một chiếc, chúng tôi tiến vào. Khi đến gần mục tiêu, chúng tôi sẽ tắt động cơ cho chiếc SDV nằm im dưới đáy biển. Thi hành xong nhiệm vụ, chúng tôi quay lại, lái nó về tàu ngầm. Bằng loại phương tiện này, thời gian phải bơi từ tàu ngầm đến mục tiêu sẽ rút ngắn nên không cần mang theo bình oxy dự trữ".

Sau gần 18 tiếng di chuyển, tàu ngầm Grayback vào đến hải phận miền Bắc Việt Nam. Hồ sơ đã được bạch hóa trên trang web NAVY-SEAL của Hải quân Mỹ cho thấy Đại tá John Arthur Dramesi, phi công lái chiếc F105 Thunderchiefs bị bắn rơi và bị bắt tại miền Bắc Việt Nam ngày 1-4-1967 trong một phi vụ ném bom. Ngày 10-5-1967,  Dramesi trốn trại nhưng không thoát. Tháng 11-1969, Dramesi và Đại úy Ed Atterberry, phi công lái chiếc phản lực trinh sát RA-5C Vigilante bị bắn rơi ngày 12-8-1967 trên vùng trời tỉnh Hà Bắc, âm mưu trốn thêm một lần nữa, nhưng rồi vẫn bị bắt trở lại.

Đến ngày 27-5-1972, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) nhận được tin Dramesi lại trốn, và đã trốn thoát cùng Đại úy Ed Atterberry, (trong lúc thực tế thì sau khi bị bắt cùng với Dramesi hồi tháng 11-1969, Atterberry đã chết vì bệnh trong trại giam).

Lẽ ra, CIA cần có thời gian để kiểm chứng thông tin về vụ trốn trại, nhất là với chi tiết rất mơ hồ: "Lấy cắp một chiếc thuyền nan, xuôi theo sông Hồng ra biển rồi ẩn náu tại một hòn đảo nhỏ cách bờ 500m, nằm giữa tỉnh Nam Định và tỉnh Thái Bình" nhưng với "thành tích" 2 lần vượt ngục của Đại tá Dramesi - trong đó, lần thứ 2 - ông ta và Đại úy Ed Atterberry đã thoát ra ngoài được 12 tiếng, đi xa khỏi trại giam gần 6km thì những người đứng đầu CIA chẳng có lý do gì để nghi ngờ.

Lập tức, CIA thông báo cho Đô đốc Thomas H. Moorer, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ. Nhận thấy đây là vụ việc mang tính khẩn cấp, Đô đốc Moorer liền ủy quyền cho Phó Đô đốc James L. Holloway III, Tư lệnh Hạm đội 7 rồi chỉ vài tiếng sau đó, Đội tìm kiếm và giải cứu thuộc Hạm đội 7 được giao nhiệm vụ "đi đón" Đại tá John Arthur Dramesi và Đại úy Ed Atterberry "về nhà".

Cũng trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, máy bay phản lực trinh sát RF-101 và RA-5C Vigilante, xuất phát từ tàu sân bay USS Enterprise, lúc ấy đang ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, thực hiện liên tiếp 4 phi vụ chụp ảnh "hòn đảo nhỏ" để cung cấp cho tàu ngầm Grayback và Đội tìm kiếm giải cứu.

Thượng sĩ Martin kể: "Trên bản đồ không ảnh, "hòn đảo nhỏ" có vẻ chỉ là một bãi đất do thủy triều bồi lên, mọc lơ thơ mấy bụi cây nên tôi không hiểu bằng cách nào mà Đại tá John Arthur Dramesi và Đại úy Ed Atterberry có thể ẩn náu được. Theo kế hoạch, khi còn cách đảo khoảng 2km, tàu ngầm Grayback sẽ thả chiếc SDV và 4 biệt kích với một số trang bị cần thiết, tiến vào đảo. Còn nó sẽ nằm im dưới nước, chỉ nhô lên chiếc kính tiềm vọng để quan sát và chờ đợi chúng tôi đưa 2 phi công về…".

Grayback hạ thủy ngày 2-7-1957, số hiệu SSG 574. Nó có chiều dài 96,8m, ngang 8,28m. Được trang bị 3 động cơ diesel để cung cấp năng lượng cho 2 động cơ điện, Grayback có thể chạy với tốc độ 27km/giờ khi nổi trên mặt nước và 22km/giờ nếu lặn chìm dưới nước. Với thủy thủ đoàn gồm 83 người, Grayback vũ trang bằng 4 tên lửa Regulus chống máy bay và 8 ống phóng ngư lôi chống hạm. Đến tháng 5-1967, Grayback được cải tạo để có thể chở thêm 60 biệt kích SEAL và 4 tàu ngầm mini SDV bằng cách tăng chiều cao thêm 3,3m, chiều dài thêm 4m đồng thời thiết kế một buồng điều hòa áp suất để biệt kích SEAL và tàu SDV có thể ra ngoài làm nhiệm vụ trong lúc chiếc Grayback đang lặn ở độ sâu 60m.

Từ lúc hạ thủy cho đến năm 1984, chiếc Grayback chuyên làm công tác huấn luyện (không kể lần duy nhất nó thả biệt kích SEAL cứu 2 phi công). Khi thế hệ tàu ngầm mới chạy bằng năng lượng hạt nhân ra đời với hệ thống tên lửa Polaris, bắn từ dưới mặt nước thì ngày 15-1-1984, Grayback chính thức ngừng hoạt động. Đến ngày 13-4-1986, nó bị đánh chìm trong vịnh Subic, Philippines để làm mô hình cho các đội SEAL thực tập kỹ thuật tác chiến bằng tàu ngầm.

Hòn đảo vô hình

Trở lại chuyện "đón Dramesi và Atterberry về nhà", theo kế hoạch, khi ra khỏi tàu ngầm Grayback và khi chỉ cách hòn đảo nhỏ chừng 10m, 3 biệt kích SEAL sẽ rời chiếc SDV lên bờ, 1 người ở lại làm nhiệm vụ trông coi tàu và hỗ trợ. Nếu nhóm SEAL gặp được cả Dramesi lẫn Atterberry, họ sẽ dìu hai kẻ trốn trại bơi ra chiếc SDV. Còn nếu chưa gặp được Dramesi và Atterberry hoặc chỉ gặp 1 trong 2 người, 2 thành viên SEAL sẽ ở lại đảo từ 1 đến 2 ngày và lập trạm quan sát bí mật để tiếp tục tìm kiếm…

Trung úy Dry (ngồi giữa, tay cầm tờ giấy), phổ biến nhiệm vụ giải cứu 2 phi công cho nhóm biệt kích SEAL (ảnh của NAVY-SEAL).
Trung úy Dry (ngồi giữa, tay cầm tờ giấy), phổ biến nhiệm vụ giải cứu 2 phi công cho nhóm biệt kích SEAL (ảnh của NAVY-SEAL).

0 giờ 10 phút đêm ngày 3-6-1972, lúc chỉ còn cách "hòn đảo nhỏ" khoảng 2km, tàu ngầm Grayback nổi lên và dừng lại ở độ sâu 6m dưới mặt nước biển. Trước đó, qua kính tiềm vọng, một sĩ quan trinh sát đã báo cho Trung úy Dry, Đội trưởng Đội Alfa rằng "trong phạm vi 5 dặm (khoảng 9, 6km), không ghi nhận bất cứ một hoạt động nào của người Bắc Việt Nam".

Sau khi tham khảo ý kiến của chỉ huy tàu ngầm Grayback là Trung tá John D. Chamberlain, Trung úy Dry quyết định sẽ xâm nhập đảo để thám sát. Theo Thượng sĩ Martin, người cùng đi với Dry - ngoài Martin ra thì còn có 2 thành viên SEAL nữa là Trung úy John Lutz và binh nhất Edwards.

0 giờ 15 phút, 4 biệt kích SEAL mặc quần áo lặn, lưng đeo bình oxy, vai khoác súng tiểu liên MP3, ngang bụng là chiếc thắt lưng với những cái túi nhỏ, chứa thuốc chống cá mập, đèn phát tín hiệu định vị, cấp cứu, lương khô, bình nước uống, bông băng cá nhân, chất nổ C4…, bước vào phòng điều áp, bên trong đã có sẵn 1 chiếc SDV. Giây lát, nước được bơm vào từ từ để cơ thể biệt kích SEAL quen dần với áp suất. Khi nước đã đầy, cánh cửa phòng điều áp mở ra.

Trung úy Dry giơ bàn tay phải lên, phất mạnh về phía trước, ra dấu khởi hành. Thượng sĩ Martin kể lại: "Chân vịt của chiếc SDV quay tít khi tôi bấm nút khởi động. Vì chạy bằng pin nên nó không hề phát ra một âm thanh nào. Cả 4 chúng tôi ra khỏi tàu ngầm Grayback trong màu nước biển đen như mực. Do đã tính toán từ trước nên khi nhìn vào chiếc la bàn dạ quang, Dry làm một số dấu hiệu, ý nói tiến thẳng về hướng 2 giờ ở độ sâu 3m. Sau 10 phút thì nổi lên…".

Sinh ngày 13-3-1946, tại thành phố New London, bang Connecticut. Năm 1964, Dry vào Học viện Hải quân Mỹ. 4 năm sau, ông ta phục vụ trên tàu khu trục USS Renshaw (DD-499), hoạt động ở vùng biển Việt Nam.

Cuối năm 1969, Dry theo học một khóa đào tạo biệt kích SEAL kéo dài 20 tuần tại căn cứ Hải quân Mỹ Naval Amphibious Base ở thành phố Coronado, bang California. Lúc tốt nghiệp, Dry chuyển đến Đà Nẵng, phụ trách một đại đội biệt kích, làm nhiệm vụ trinh sát trên các con sông ở cả Quảng Nam lẫn Đà Nẵng.

Tàu ngầm Grayback tiến vào vùng biển miền Bắc Việt Nam.
Tàu ngầm Grayback tiến vào vùng biển miền Bắc Việt Nam.

Đầu năm 1971, Dry trở về Mỹ và được giao nhiệm vụ chỉ huy phó Đội 1 (Team One), biệt kích SEAL. Bên cạnh đó, với kinh nghiệm của mình, Dry còn là giảng viên, dạy cho những cố vấn Mỹ sắp được cử đến miền Nam Việt Nam kỹ thuật chống du kích, kinh nghiệm hoạt động bí mật tại các khu vực ven biển, ven sông.

Đến cuối năm, Tư lệnh Lực lượng đặc nhiệm 77 thuộc Hạm đội 7 đề nghị Dry thành lập một trung đội, gọi là Alfa, gồm những biệt kích SEAL giỏi nhất của Team One để tiến hành những chuyến xâm nhập bí mật vào một số khu vực ở phía tây Thái Bình Dương.

Trung úy Robert J. Conger Jr., sĩ quan trợ lý Tư lệnh Lực lượng đặc nhiệm 77, người trực tiếp chỉ huy Dry vào thời điểm đó nhớ lại rằng ông ta và Dry đã dành hai tuần để kiểm tra hơn 80 biệt kích SEAL tình nguyện gia nhập trung đội Alfa nhưng cuối cùng, cả Dry và Robert J. Conger Jr chỉ chọn đươc 12 người, trong đó Thượng sĩ Philip L. "Moki" Martin làm trung đội phó.

Và 12 người này cùng Dry và chuyên viên truyền tin Frank H. Sayle, chính là những người thực hiện "Kế hoạch Đầu Sấm", xâm nhập vùng biển miền Bắc Việt Nam để giải cứu Đại tá Dramesi và Đại úy Atterberry đêm 3-6-1972…

Cao Trí (theo History - Operation Thunderhead)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.