Vén màn bí mật "Kế hoạch Đầu Sấm - Operation Thunderhead":

Cuộc xâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng tàu ngầm

Ngày 27-5-1972, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) nhận được nguồn tin từ Đại sứ quán của một quốc gia có quan hệ mật thiết với Mỹ, đặt tại Hà Nội, cho biết 2 sĩ quan không quân Mỹ là Đại tá John Dramesi và Đại úy Ed Atterberry, sau khi bị bắn rơi và bị bắt trong một phi vụ ném bom miền Bắc Việt Nam, đã trốn thoát khỏi một trại giam gần Hà Nội rồi lấy cắp một chiếc thuyền nan.

Vẫn theo nguồn tin này, cả John Dramesi lẫn Ed Atterberry đã xuôi dòng sông Hồng ra biển và đang ẩn náu tại một hòn đảo nhỏ nằm giữa tỉnh Nam Định và Thái Bình, cách bờ khoảng 500m.

Ngay lập tức, Trung tâm tìm kiếm và giải cứu của Hải quân Mỹ vào cuộc. Chỉ hai ngày sau đó - ngày 29-5-1972 - kế hoạch "Đầu Sấm - Operation Thunderhead" ra đời…

Lên đường

11 giờ trưa ngày 1-6-1972, tàu ngầm Grayback rời cảng Subic, Philippines để lên đường đến vùng biển miền Bắc Việt Nam với một sứ mệnh đặc biệt, được Hạm đội 7, Hải quân Mỹ đặt cho mật danh là "Kế hoạch Đầu Sấm - Operation Thunderhead" (Thunderhead là cách mà các phi công quân sự Mỹ dùng để gọi một loại mây, phần rìa thường phát ra sấm sét), theo sau nó là tàu hỗ trợ Squadron HC-7 và tuần dương hạm USS Long Beach, làm nhiệm vụ chỉ huy.

Trên tàu Grayback, ngoài thuyền trưởng là Trung tá John D. Chamberlain và thủy thủ đoàn, còn có 14 thành viên Trung đội Alfa, thuộc Đội 1 (Team One) lực lượng biệt kích SEAL của Hải quân Mỹ, dẫn đầu bởi Trung úy Melvin "Spence" Dry.

Thượng sĩ Philip L. "Moki" Martin, Trung đội phó Trung đội Alfa kể: "Chúng tôi chỉ có 4 tiếng đồng hồ để tập lái loại tàu lặn mini SDV và khi chiếc Grayback đã ra đến hải phận quốc tế, Trung úy Dry mới tập họp tất cả lại rồi phổ biến nhiệm vụ. Lúc ấy, chúng tôi mới biết mình sẽ xâm nhập vùng biển miền Bắc Việt Nam, mục tiêu là giải cứu hai phi công bị bắt nhưng đã trốn thoát".

Melvin "Spence" Dry khi được thăng quân hàm Trung úy.
Melvin "Spence" Dry khi được thăng quân hàm Trung úy.

SDV là tên gọi tắt của "Swimmer Delivery Vehice - Xe giao hàng của người bơi lội". Đây là loại tàu lặn tí hon, thân làm bằng sợi thủy tinh và không có buồng điều hòa áp suất nước biển khi phải xuống sâu. Nó có thể chở được 4 người nhưng tất cả đều phải mặc quần áo lặn, đeo bình oxy, ngồi trong khoang lái giống như người ta ngồi trong một chiếc ôtô mui trần. Nó dài 5,6m, rộng 2,6m, nặng 550kg. Được trang bị một động cơ điện chạy bằng ắc quy, chiếc SVD có thể di chuyển dưới nước với tốc độ tối đa 9km/giờ, lặn sâu 180m. Với những tính năng như thế, nó gần như tàng hình trước những máy dò tìm tàu ngầm (sonar).

Thượng sĩ Martin nói tiếp: "SVD thường được lực lượng SEAL sử dụng để bí mật xâm nhập những căn cứ quân sự nằm trên những hòn đảo hoặc bờ biển của đối phương. Tùy theo vị trí, địa hình đáy biển, các dòng hải lưu và thủy triều, tàu ngầm thả chúng tôi ở độ sâu 20 đến 30m rồi cứ 4 người một chiếc, chúng tôi tiến vào. Khi đến gần mục tiêu, chúng tôi sẽ tắt động cơ cho chiếc SDV nằm im dưới đáy biển. Thi hành xong nhiệm vụ, chúng tôi quay lại, lái nó về tàu ngầm. Bằng loại phương tiện này, thời gian phải bơi từ tàu ngầm đến mục tiêu sẽ rút ngắn nên không cần mang theo bình oxy dự trữ".

Sau gần 18 tiếng di chuyển, tàu ngầm Grayback vào đến hải phận miền Bắc Việt Nam. Hồ sơ đã được bạch hóa trên trang web NAVY-SEAL của Hải quân Mỹ cho thấy Đại tá John Arthur Dramesi, phi công lái chiếc F105 Thunderchiefs bị bắn rơi và bị bắt tại miền Bắc Việt Nam ngày 1-4-1967 trong một phi vụ ném bom. Ngày 10-5-1967,  Dramesi trốn trại nhưng không thoát. Tháng 11-1969, Dramesi và Đại úy Ed Atterberry, phi công lái chiếc phản lực trinh sát RA-5C Vigilante bị bắn rơi ngày 12-8-1967 trên vùng trời tỉnh Hà Bắc, âm mưu trốn thêm một lần nữa, nhưng rồi vẫn bị bắt trở lại.

Đến ngày 27-5-1972, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) nhận được tin Dramesi lại trốn, và đã trốn thoát cùng Đại úy Ed Atterberry, (trong lúc thực tế thì sau khi bị bắt cùng với Dramesi hồi tháng 11-1969, Atterberry đã chết vì bệnh trong trại giam).

Lẽ ra, CIA cần có thời gian để kiểm chứng thông tin về vụ trốn trại, nhất là với chi tiết rất mơ hồ: "Lấy cắp một chiếc thuyền nan, xuôi theo sông Hồng ra biển rồi ẩn náu tại một hòn đảo nhỏ cách bờ 500m, nằm giữa tỉnh Nam Định và tỉnh Thái Bình" nhưng với "thành tích" 2 lần vượt ngục của Đại tá Dramesi - trong đó, lần thứ 2 - ông ta và Đại úy Ed Atterberry đã thoát ra ngoài được 12 tiếng, đi xa khỏi trại giam gần 6km thì những người đứng đầu CIA chẳng có lý do gì để nghi ngờ.

Lập tức, CIA thông báo cho Đô đốc Thomas H. Moorer, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ. Nhận thấy đây là vụ việc mang tính khẩn cấp, Đô đốc Moorer liền ủy quyền cho Phó Đô đốc James L. Holloway III, Tư lệnh Hạm đội 7 rồi chỉ vài tiếng sau đó, Đội tìm kiếm và giải cứu thuộc Hạm đội 7 được giao nhiệm vụ "đi đón" Đại tá John Arthur Dramesi và Đại úy Ed Atterberry "về nhà".

Cũng trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, máy bay phản lực trinh sát RF-101 và RA-5C Vigilante, xuất phát từ tàu sân bay USS Enterprise, lúc ấy đang ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, thực hiện liên tiếp 4 phi vụ chụp ảnh "hòn đảo nhỏ" để cung cấp cho tàu ngầm Grayback và Đội tìm kiếm giải cứu.

Thượng sĩ Martin kể: "Trên bản đồ không ảnh, "hòn đảo nhỏ" có vẻ chỉ là một bãi đất do thủy triều bồi lên, mọc lơ thơ mấy bụi cây nên tôi không hiểu bằng cách nào mà Đại tá John Arthur Dramesi và Đại úy Ed Atterberry có thể ẩn náu được. Theo kế hoạch, khi còn cách đảo khoảng 2km, tàu ngầm Grayback sẽ thả chiếc SDV và 4 biệt kích với một số trang bị cần thiết, tiến vào đảo. Còn nó sẽ nằm im dưới nước, chỉ nhô lên chiếc kính tiềm vọng để quan sát và chờ đợi chúng tôi đưa 2 phi công về…".

Grayback hạ thủy ngày 2-7-1957, số hiệu SSG 574. Nó có chiều dài 96,8m, ngang 8,28m. Được trang bị 3 động cơ diesel để cung cấp năng lượng cho 2 động cơ điện, Grayback có thể chạy với tốc độ 27km/giờ khi nổi trên mặt nước và 22km/giờ nếu lặn chìm dưới nước. Với thủy thủ đoàn gồm 83 người, Grayback vũ trang bằng 4 tên lửa Regulus chống máy bay và 8 ống phóng ngư lôi chống hạm. Đến tháng 5-1967, Grayback được cải tạo để có thể chở thêm 60 biệt kích SEAL và 4 tàu ngầm mini SDV bằng cách tăng chiều cao thêm 3,3m, chiều dài thêm 4m đồng thời thiết kế một buồng điều hòa áp suất để biệt kích SEAL và tàu SDV có thể ra ngoài làm nhiệm vụ trong lúc chiếc Grayback đang lặn ở độ sâu 60m.

Từ lúc hạ thủy cho đến năm 1984, chiếc Grayback chuyên làm công tác huấn luyện (không kể lần duy nhất nó thả biệt kích SEAL cứu 2 phi công). Khi thế hệ tàu ngầm mới chạy bằng năng lượng hạt nhân ra đời với hệ thống tên lửa Polaris, bắn từ dưới mặt nước thì ngày 15-1-1984, Grayback chính thức ngừng hoạt động. Đến ngày 13-4-1986, nó bị đánh chìm trong vịnh Subic, Philippines để làm mô hình cho các đội SEAL thực tập kỹ thuật tác chiến bằng tàu ngầm.

Hòn đảo vô hình

Trở lại chuyện "đón Dramesi và Atterberry về nhà", theo kế hoạch, khi ra khỏi tàu ngầm Grayback và khi chỉ cách hòn đảo nhỏ chừng 10m, 3 biệt kích SEAL sẽ rời chiếc SDV lên bờ, 1 người ở lại làm nhiệm vụ trông coi tàu và hỗ trợ. Nếu nhóm SEAL gặp được cả Dramesi lẫn Atterberry, họ sẽ dìu hai kẻ trốn trại bơi ra chiếc SDV. Còn nếu chưa gặp được Dramesi và Atterberry hoặc chỉ gặp 1 trong 2 người, 2 thành viên SEAL sẽ ở lại đảo từ 1 đến 2 ngày và lập trạm quan sát bí mật để tiếp tục tìm kiếm…

Trung úy Dry (ngồi giữa, tay cầm tờ giấy), phổ biến nhiệm vụ giải cứu 2 phi công cho nhóm biệt kích SEAL (ảnh của NAVY-SEAL).
Trung úy Dry (ngồi giữa, tay cầm tờ giấy), phổ biến nhiệm vụ giải cứu 2 phi công cho nhóm biệt kích SEAL (ảnh của NAVY-SEAL).

0 giờ 10 phút đêm ngày 3-6-1972, lúc chỉ còn cách "hòn đảo nhỏ" khoảng 2km, tàu ngầm Grayback nổi lên và dừng lại ở độ sâu 6m dưới mặt nước biển. Trước đó, qua kính tiềm vọng, một sĩ quan trinh sát đã báo cho Trung úy Dry, Đội trưởng Đội Alfa rằng "trong phạm vi 5 dặm (khoảng 9, 6km), không ghi nhận bất cứ một hoạt động nào của người Bắc Việt Nam".

Sau khi tham khảo ý kiến của chỉ huy tàu ngầm Grayback là Trung tá John D. Chamberlain, Trung úy Dry quyết định sẽ xâm nhập đảo để thám sát. Theo Thượng sĩ Martin, người cùng đi với Dry - ngoài Martin ra thì còn có 2 thành viên SEAL nữa là Trung úy John Lutz và binh nhất Edwards.

0 giờ 15 phút, 4 biệt kích SEAL mặc quần áo lặn, lưng đeo bình oxy, vai khoác súng tiểu liên MP3, ngang bụng là chiếc thắt lưng với những cái túi nhỏ, chứa thuốc chống cá mập, đèn phát tín hiệu định vị, cấp cứu, lương khô, bình nước uống, bông băng cá nhân, chất nổ C4…, bước vào phòng điều áp, bên trong đã có sẵn 1 chiếc SDV. Giây lát, nước được bơm vào từ từ để cơ thể biệt kích SEAL quen dần với áp suất. Khi nước đã đầy, cánh cửa phòng điều áp mở ra.

Trung úy Dry giơ bàn tay phải lên, phất mạnh về phía trước, ra dấu khởi hành. Thượng sĩ Martin kể lại: "Chân vịt của chiếc SDV quay tít khi tôi bấm nút khởi động. Vì chạy bằng pin nên nó không hề phát ra một âm thanh nào. Cả 4 chúng tôi ra khỏi tàu ngầm Grayback trong màu nước biển đen như mực. Do đã tính toán từ trước nên khi nhìn vào chiếc la bàn dạ quang, Dry làm một số dấu hiệu, ý nói tiến thẳng về hướng 2 giờ ở độ sâu 3m. Sau 10 phút thì nổi lên…".

Sinh ngày 13-3-1946, tại thành phố New London, bang Connecticut. Năm 1964, Dry vào Học viện Hải quân Mỹ. 4 năm sau, ông ta phục vụ trên tàu khu trục USS Renshaw (DD-499), hoạt động ở vùng biển Việt Nam.

Cuối năm 1969, Dry theo học một khóa đào tạo biệt kích SEAL kéo dài 20 tuần tại căn cứ Hải quân Mỹ Naval Amphibious Base ở thành phố Coronado, bang California. Lúc tốt nghiệp, Dry chuyển đến Đà Nẵng, phụ trách một đại đội biệt kích, làm nhiệm vụ trinh sát trên các con sông ở cả Quảng Nam lẫn Đà Nẵng.

Tàu ngầm Grayback tiến vào vùng biển miền Bắc Việt Nam.
Tàu ngầm Grayback tiến vào vùng biển miền Bắc Việt Nam.

Đầu năm 1971, Dry trở về Mỹ và được giao nhiệm vụ chỉ huy phó Đội 1 (Team One), biệt kích SEAL. Bên cạnh đó, với kinh nghiệm của mình, Dry còn là giảng viên, dạy cho những cố vấn Mỹ sắp được cử đến miền Nam Việt Nam kỹ thuật chống du kích, kinh nghiệm hoạt động bí mật tại các khu vực ven biển, ven sông.

Đến cuối năm, Tư lệnh Lực lượng đặc nhiệm 77 thuộc Hạm đội 7 đề nghị Dry thành lập một trung đội, gọi là Alfa, gồm những biệt kích SEAL giỏi nhất của Team One để tiến hành những chuyến xâm nhập bí mật vào một số khu vực ở phía tây Thái Bình Dương.

Trung úy Robert J. Conger Jr., sĩ quan trợ lý Tư lệnh Lực lượng đặc nhiệm 77, người trực tiếp chỉ huy Dry vào thời điểm đó nhớ lại rằng ông ta và Dry đã dành hai tuần để kiểm tra hơn 80 biệt kích SEAL tình nguyện gia nhập trung đội Alfa nhưng cuối cùng, cả Dry và Robert J. Conger Jr chỉ chọn đươc 12 người, trong đó Thượng sĩ Philip L. "Moki" Martin làm trung đội phó.

Và 12 người này cùng Dry và chuyên viên truyền tin Frank H. Sayle, chính là những người thực hiện "Kế hoạch Đầu Sấm", xâm nhập vùng biển miền Bắc Việt Nam để giải cứu Đại tá Dramesi và Đại úy Atterberry đêm 3-6-1972…

Cao Trí (theo History - Operation Thunderhead)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.