Tiên Quốc lão Đặng Đình Tướng (1649-1735):

Có đức, vực được tương lai

Sống thọ 87 tuổi, làm quan ở những chức vị rất cao trong suốt 70 năm, trải qua mấy triều vua, Ứng Quận công Đặng Đình Tướng được đánh giá là một trong những danh sĩ nổi bật nhất của thời Lê Trung hưng. Không những thế, những nỗ lực cống hiến cho đời đã giúp ông để lại cho nhiều thế hệ cháu con phúc lộc dồi dào. Không ngẫu nhiên mà ngay đương thời, thiên hạ đã gọi ông là Tiên Quốc lão!

Hổ tử không phụ hổ phụ

Ứng Quận công Đặng Đình Tướng xuất thân từ một dòng họ rất danh giá của làng Lương Xá, huyện Chương Mỹ (Hà Tây cũ, nay là Hà Nội). Ông là cháu năm đời của Thái úy, Nghĩa Quốc công Đặng Huấn (dòng dõi Đặng Dung). Cha ông, Yên Quận công Đặng Tiến Thự, một trọng thần đương thời, vì những công tích to lớn còn được ban họ của chúa nên còn có tên là Trịnh Liễu… Yên Quận công nổi tiếng là một vị minh quan thời Lê Trung hưng, “mưu cao quyết đoán trấn phục lòng người, chặn kẻ ác nghịch từ lúc manh nha, dẹp giặc cướp khi chúng đang ngông cuồng…”. (Gia phả họ Đặng). Ông từng trấn thủ Nghệ An trong suốt 24 năm.

Gia phả họ Đặng cũng chép lại rằng, khi đứng đầu trấn Nghệ An, Đặng Tiến Thự đã nuôi hộ cho các tướng dưới trướng mỗi người một con trai. Khi các bộ tướng trong doanh có người bị đau ốm, bao giờ ông cũng đích thân tới thăm hỏi, cho thuốc thang chạy chữa và cấp cho tiền gạo. Ngay cả đối với sĩ tốt, nếu ai đau yếu cũng được ông cấp cho mỗi người năm bát gạo trắng, một quan tiền và một con cá… Khẩu phần này đối với chúng ta bây giờ có vẻ là ít nhưng ở thời bấy giờ, đó là nguồn tiếp tế cực kỳ có ý nghĩa…

Đặng Tiến Thự đã được đánh giá là vị tướng cầm quân khoan hòa mà nghiêm khắc, thưởng phạt phân minh. Khi cai trị dân, ông  thiên về dùng ân, ít gây oán hận, giảm thuế khóa, bớt phu dịch. Chính vì thế nên xứ Nghệ An thời ấy đã được sống trong thịnh trị, biên giới yên ổn. Sau khi ông mất nhiều năm, dân trong xứ mỗi khi nhắc tới tên họ của Yên Quận công vẫn  tấm tắc mà rằng, “đến nay còn nhớ nhung, ngưỡng vọng!”…

Với một người cha như thế thì những người con không thể không ít nhiều tiếp thu được những tinh hoa nhân ái và tài năng đức trị (Đặng Tiến Thự có 27 người con, trong đó có 14 người con trai). Không ngẫu nhiên mà nhiều người con của Yên Quận công về sau cũng rất hiển đạt, trong đó đáng kể nhất là Đặng Đình Tướng…

Vinh hoa vẫn trong sáng

Vẫn biết là sống trong cảnh giàu sang từ tấm bé, con người ta dễ bị tha hóa và trở nên tàn nhẫn. Thế nhưng, Đặng Đình Tướng lại là một thí dụ ngược lại. Mặc dù được bà nội chăm sóc ở trong cung, sống giữa ngọc ngà nhung lụa, nhưng vị danh sĩ tương lai rất chăm chỉ dùi mài kinh sử, không quan tâm tới những chuyện chơi bời. Nhờ thế, năm 20 tuổi (1669), ông đã đỗ giải nguyên trong kỳ thi Hương. Một năm sau đó, tại kỳ thi Hội khoa Canh Tuất (1670), ông đã trở thành một trong 7 người đỗ tiến sĩ xuất thân.

Vào triều làm quan, Đặng Đình Tướng dĩ nhiên là được chúa Trịnh rất để ý nâng đỡ vì là dòng dõi công thần ruột thịt. Năm 1675, ở tuổi 26, Đặng Đình Tướng đã được đưa lên làm Đốc đồng Kinh Bắc. Một năm sau (1676), ông được đưa lên làm Hiến sát xứ Sơn Tây… Năm 1682, Đặng Đình Tướng được cử làm Công khoa Cấp sự trung…

Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, không phải lúc nào công chuyện của Đặng Đình Tướng cũng xuôi chèo mát mái. Năm 1683, ông đã được chúa Trịnh Căn (là cậu ruột của ông) sai đi cùng bồi tụng Nguyễn Quai, cấp sự trung Trần Thế Vinh và trấn thủ Lạng Sơn lúc đó là hoạn quan Thân Đức Tài lên biên giới nhận tù binh là khoảng 350 những người họ Mạc lưu lạc sang Trung Quốc sau khi bại vong cùng cực nên đã bị nhà Thanh bắt giữ. Viên quan nhà Thanh có trách nhiệm làm việc này là thông phán Nam Ninh, Vương Quốc Trinh lại bày trò gây khó dễ cho phái bộ nước ta. Y đưa ra nhiều đòi hỏi vô lý. Và Đặng Đình Tướng đã vừa cương quyết vừa mềm dẻo xử lý công việc, chuyện gì liên quan tới quốc thể thì rất cứng rắn, còn chuyện gì chỉ là những chi phí vật chất, có thể lấy của thay cho người thì cũng định liệu xêm xêm cho ổn thỏa.

Ngay cả khi Quốc Trinh trong cơn tức tối thả lỏng cho lính bản thổ xung đột với nhau ở trấn Nam Quan, mạo phạm đâm thủng cả hai lần áo cừu của ông, Đặng Đình Tướng vẫn bình tĩnh giải quyết sự cố khiến Quốc Trinh phải xấu hổ thốt lên: “Vừa rồi có nghe bọn quân sĩ lỡ xâm phạm, xin chớ khiển trách”… Tuy nhiên, viên khâm sai lòng tham vô đáy này vẫn cố nèo để bắt phái bộ nước ta nộp 5.500 lạng bạc hành lý. Vì muốn để cho mọi sự không quá mù ra mưa, Đặng Đình Tướng đã  bàn với các quan cùng đi đồng ý nộp số bạc đó cho Quốc Trinh…

Sự việc chỉ có thế nhưng về sau, do có lời tấu trình từ một số nhân vật không thiện chí rằng, số tiền nộp như thế là quá nhiều nên chúa Trịnh đã cho hỏi lại. Những ông quan cùng đi với ông đã chối tội bằng cách nói rằng, họ bị ốm nên chỉ một mình Đặng Đình Tướng tự ý quyết định, nên họ chỉ bị phạt tiền. Còn riêng Đặng Đình Tướng thì bị giáng xuống một chức. Lệnh trên thì không ai bàn sai đúng nên ông đã bình tĩnh chấp nhận sự giáng chức này và cũng không “bóc mẽ” ai. Thêm vào đó, về sau vụ việc này đã được xác minh lại, cho thấy ông đã rất quyền biến và tỉnh táo xử lý quan hệ với viên khâm sai nhà Thanh, nên chúa Trịnh lại càng trọng dụng và  ưu ái ông hơn. Và ông đã được can dự vào rất nhiều công to việc lớn trong triều.

Đầu năm 1687, Đặng Đình Tướng được phái làm Đốc thị đi dẹp giặc ở các đạo Tuyên, Hưng thuộc miền Tây. Và tới mùa thu, ông cũng đã hoàn thành nhiệm vụ, làm yên cả cõi.  Tuy nhiên, do không hợp thủy thổ trên đường hành binh, khi về lại kinh đô, ông đã bị ốm nặng nên phải dưỡng bệnh tới hai tuần. Khỏi ốm, vào hầu trong triều, Đặng Đình Tướng được phong làm Tri Thủy sư và được theo hầu bên cạnh chúa Trịnh Căn…

Năm 1688, Đặng Đình Tướng được phong làm Lại Khoa đô cấp sự trung. Năm 1692, ông được cho làm Tham chính Thanh Hoa, cai quản thủy quân… Năm 1695, ông được cử đi xuống cùng các quan khác lo việc lập địa giới của châu ở một số địa phương. Mùa xuân, tháng giêng năm 1697, Đặng Đình Tướng lại được cử làm phó sứ trong phái đoàn nước ta sang triều cống cho nhà Thanh, tới tháng 4/1698 mới trở về.  Trong thời gian đi sứ, ông đã viết nhiều bài thơ, về sau gom lại thành Hoa tùng vịnh tập…

Trước khi đi sứ, Đặng Đình Tướng đã dâng khải xin chúa cho vào Nghệ An thăm cha và ở lại với người cha đã ở tuổi 70 của mình một tháng. Ông cũng đã khuyên cha nên có cách thích ứng để “thuần hóa” những người anh em cùng cha khác mẹ với ông để họ hiểu ra thêm những điều hay lẽ phải, chứ không nên giận dỗi buông họ ra… Tấm chân tình đó với anh em của Đặng Đình Tướng càng giúp ông củng cố hơn vai trò “hạt nhân đoàn kết và hòa giải” trong gia tộc họ Đặng, vốn có quá nhiều “danh sĩ” lắm cá tính và nhiều trò ương ngạnh…

Khi đi sứ từ Trung Quốc về, chính ông đã phải ra tay để xóa bỏ mâu thuẫn giữa hai người anh em cùng cha khác mẹ là Gia Quận công Đặng Tiến Lân và Lai Quận công Đặng Tiến Sở, nảy sinh khi vào trấn Nghệ An hộ tang cha tháng giêng năm 1698. Cha của họ trước khi qua đời không lâu, đã nhận xét với Đặng Đình Tướng rằng: “Gia Quận công thì sinh trưởng trong cảnh phú quý, chưa biết lễ nghĩa. Lai Quận công thì tính nết mạnh mẽ, không chịu sự giáo hóa…”.

Tới năm 1705, Đặng Đình Tướng đã được phong làm Bồi tụng, Tả thị lang Bộ Lại, tước nam. Đây là chức đứng đầu hàng quan văn thời đó. Trong con mắt của chúa Trịnh Căn, ông không chỉ là người cháu thân thiết, có nhiều công lao mà còn “có mưu cơ, tài lược, hiểu biết việc quân” (theo sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục).

Chính vì thế nên tháng 2/1705, Đặng Đình Tướng còn được  đưa ra làm Quyền trấn thủ Sơn Nam . Sau khi nhậm chức một thời gian ngắn, vì đã dẹp yên trộm cướp, nhân dân yên ổn, nên các huyện, xã trong trấn dâng khải ca ngợi, Đặng Đình Tướng đã được chuyển sang võ ban với chức Trung quân Hữu Đô đốc, tước Ứng Quận công, cai quản Tả Dũng thủy cơ kiêm Trấn thủ Sơn Nam. Sách KĐVSTGCM đã nhận xét: “Đình Tướng giản dị, khoan hòa, nhân thứ; nhân dân trong trấn cũng được yên vui”. Gia phả họ Đặng cũng nhận xét: “Ông là người có thiên tư ôn hòa, khí chất cứng cỏi, tài kiêm văn võ, mừng giận không lộ trên nét mặt, gặp việc rắc rối thì xử sự rất bình tĩnh…”.

Có đức vực được tương lai

Đặng Đình Tướng là người đã sáng suốt nhận thấy diện mạo minh chủ ở người chắt của chúa Trịnh Căn là Trịnh Cương. Trịnh Cương là con trưởng của Tấn Quan Vương Trịnh Bính. Ông nội Trịnh Cương là Trịnh Vĩnh và cha là Trịnh Bính đều mất trước cụ nội Trịnh Căn, nên theo quy định trực hệ, Trịnh Cương được chọn làm người kế vị. Trước khi đưa ra quyết định này, Trịnh Căn đã  hỏi ý kiến của các trọng thần, trong đó có Đặng Đình Tướng.

Và đã nhận được lời tâu của Đặng Đình Tướng rằng: “Vương tôn Trịnh Cương tư chất thông minh, dùi mài học tập, tính tình hiếu thuận, đức hạnh nhân nghĩa, tài đức không ai sánh bằng, có thể lên ngôi chúa, nối nghiệp vương, bảo trọng tông thống, quy tụ lòng dân…”. Về sau, quả thực, Trịnh Cương đã trở thành vị chúa Trịnh duy nhất có cuộc đời và sự nghiệp trong thời thái bình thịnh trị, không hề vấy nạn binh đao…

Khi Trịnh Cương lên ngôi chúa sau khi Trịnh Căn qua đời năm 1709, Đặng Đình Tướng càng được trọng dụng. Tuy nhiên, tới năm 1717, vì tuổi cao nên ông đã dâng khải xin chúa cho nghỉ chức Trấn thủ Sơn Nam . Và đã được chấp nhận vì chúa nghĩ đến công của ông đối với mình từ lúc chưa lên ngôi cao. Và chúa còn ban lệnh chỉ cho mở Tiền Hòa quân doanh (với 1.000 suất lính) cho ông về Kinh chờ lệnh và ban cho một dinh thự riêng để ở.

Năm 1718, Đặng Đình Tướng được thăng làm Thái phó Tham tụng Thự phủ sự (đứng đầu hàng quan võ). Sau đó, vào cuối năm này, ông được gia phong làm Trí sĩ Ứng Quận công, Quốc lão tham dự triều chính và về quê nghỉ hưu… Năm 1730, chúa Trịnh Cương lại gia thăng ông lên làm Ngũ lão, sau đó lại cử ông ra làm đô đốc.

Khi chúa Trịnh Cương lập Trịnh Giang làm thế tử, Đặng Đình Tướng dâng lên 8 thiên Thuật cổ quy huấn, nói về những điều khuyên răn và xin chúa Trịnh ban cho thế tử. Chúa Trịnh Cương khen ngợi ông và thỉnh thoảng mời ông vào phủ bàn việc. Mỗi lần như thế, ông đều được nhà bếp trong cung đãi cơm chu đáo. Mãi tới năm 82 tuổi, Đặng Đình Tướng mới được cho nghỉ hưu lần thứ hai sau khi được gia phong làm Đại tư mã.

Khi qua đời năm 1735, thọ 87 tuổi, Đặng Đình Tướng còn được truy tặng là Đại tư không, phong phúc thần

Lưu Hùng Văn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.