Chuyện về “người điều tra đĩa bay”

Công việc của ông là khám phá những bí mật từ những điều chưa biết. Nhưng sự tò mò của ông đã mở ra những cánh cửa mà chính phủ Mỹ luôn muốn đóng lại.

Đó là thông điệp cơ bản của một báo cáo được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố tháng 3/2024. Báo cáo dài 63 trang về sự liên can của Chính phủ Mỹ với các hiện tượng bất thường không xác định (UAP) kết luận rằng Văn phòng giải quyết bất thường toàn miền (AARO) của Bộ Quốc phòng Mỹ “không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy có sự hiện diện của công nghệ ngoài trái đất”.

AARO, theo The Guardian, là “một văn phòng chính phủ được thành lập vào năm 2022 để phát hiện và khi cần thiết, giảm thiểu các mối đe dọa từ “các vật thể dị thường trên không, dưới nước hoặc đa môi trường”.

Báo cáo cho thấy sự mâu thuẫn với nội dung phiên điều trần nổi bật nhất về UAP - trước đây được gọi là vật thể bay không xác định hoặc UFO - trong nhiều thập kỷ: lời khai tháng 8/2023 của “người thổi còi” Dave Grusch.

Chuyện về “người điều tra đĩa bay” -0
Josef Allen Hynek, ảnh chụp năm 1972.

Trong phiên điều trần gây xôn xao dư luận, Grusch, cựu thành viên Lực lượng đặc nhiệm UAP của Lầu Năm Góc, tuyên bố rằng ông đã được biết về “Chương trình thu hồi và phân tích vật thể bay không xác định kéo dài nhiều thập kỷ”. Nhưng những tuyên bố của ông ta chưa bao giờ được chứng minh, và mặc dù báo cáo mới không đề cập cái tên Grusch, nhưng nó đưa ra những lời giải thích cho những hiện tượng mà ông ta mô tả trong lời khai.

Đây không phải là báo cáo đầu tiên của chính phủ Mỹ bác bỏ những câu chuyện về những người ngoài hành tinh nhỏ bé màu xanh lá cây và những chiếc đĩa bay kỳ lạ của họ. Vậy tại sao người Mỹ cứ bám vào thuyết âm mưu du khách ngoài Trái đất? Đổ lỗi cho khoa học viễn tưởng, báo cáo của AARO viết:

“Có một chủ đề nhất quán trong văn hóa đại chúng liên quan đến câu chuyện đặc biệt dai dẳng rằng Chính phủ Mỹ hoặc một tổ chức bí mật của chính phủ đã phục hồi được một số tàu vũ trụ ngoài hành tinh và hài cốt người ngoài Trái đất, rằng Mỹ vận hành một hoặc nhiều chương trình nhằm phục hồi công nghệ (ngoài Trái đất) và rằng từ những năm 1940 Chính phủ Mỹ đã nỗ lực che giấu việc này với quốc hội và công chúng Mỹ.

AARO nhận ra rằng nhiều người thực sự tin vào việc này dựa trên nhận thức của họ về trải nghiệm trong quá khứ, trải nghiệm của những người khác mà họ tin tưởng hoặc các phương tiện truyền thông mà họ tin là nguồn thông tin đáng tin cậy và có thể kiểm chứng. Sự phổ biến của các chương trình truyền hình, sách, phim cũng như lượng lớn nội dung trên Internet và mạng xã hội tập trung vào các chủ đề liên quan đến UAP rất có thể đã ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về chủ đề và củng cố niềm tin này trong một bộ phận dân chúng”.

Internet đã giúp những người tò mò tiếp cận với lĩnh vực UFO học. Nhưng để hiểu đầy đủ sự hoài nghi hiện nay của công chúng đối với những lời giải thích do Chính phủ Mỹ đưa ra về người ngoài hành tinh, chúng ta phải xem xét người từng chịu trách nhiệm ủng hộ những câu chuyện “chính thức” này - và xem xét quá trình biến đổi của ông từ một người hoài nghi thành người ủng hộ nhận định rằng UFO tồn tại.

Allen Hynek là ai?

Josef Allen Hynek, sinh ngày 1/5/1910, bắt đầu quan tâm đến vũ trụ sau một lần bị ốm hồi còn nhỏ. Căn bệnh đã khiến cậu bé rời xa việc đi theo bước chân của mẹ, một giáo viên và cha, nhà sản xuất xì gà, để hướng tới vũ trụ. Tiểu sử của Hynek viết:

“Mối quan tâm tới các vì sao xuất hiện sau khi Hynek phải nằm liệt giường vì bệnh ban đỏ lúc 7 tuổi. Sau khi cậu đọc hết số sách dành cho trẻ em, mẹ Hynek đưa cho con trai một số sách giáo khoa của học sinh trung học và cuốn sách thiên văn học đã thu hút sự chú ý của cậu bé”.

Ngay từ khi còn nhỏ, niềm đam mê khoa học của Hynek đã pha trộn với thiên hướng bí ẩn và sở thích nghiên cứu các tư tưởng triết học.

Năm 1934, với tư cách là nghiên cứu sinh tiến sĩ, Hynek đã đóng góp vào việc quan sát siêu tân tinh Nova Herculis tại Đài thiên văn Perkins ở Ohio (siêu tân tinh là vụ nổ của một ngôi sao lớn sắp kết thúc vòng đời, là một trong những vụ nổ sáng nhất trong vũ trụ, có thể sáng hơn cả một thiên hà. Vụ nổ có thể nhìn thấy trong nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần).

Năm 1936, Hynek gia nhập Khoa Vật lý và Thiên văn của Đại học bang Ohio. Nghiên cứu của ông trong 12 năm tiếp theo đã lên đến đỉnh cao khi ông được bổ nhiệm làm giám đốc Đài thiên văn McMillin của trường đại học.

Và đó là lúc đại diện chính phủ Mỹ gọi điện đến với một yêu cầu bất thường.

Hynek đã dính líu đến UFO như thế nào?

Trong những ngày cuối của Thế chiến II, các phi công chiến đấu Mỹ cho biết đã nhìn thấy những chiếc máy bay không giống bất kỳ chiếc máy bay nào từng gặp trong chiến đấu. Một số người mô tả “những ánh sáng chảy màu cam”, trong khi một phi công khác “nhìn thấy một vật thể màu đỏ, không có cánh, hình điếu xì gà”.

Những lời tường thuật này đã đến tai giới truyền thông. Nhưng những hiện tượng này cuối cùng được giải thích là do “hiện tượng tĩnh điện hoặc điện từ”.

Tuy nhiên, vụ việc liên quan đến phi công Kenneth Arnold vào ngày 24/6/1947 không được giải thích rõ ràng và quan trọng hơn là không dễ bị bác bỏ.

Tạp chí PopMech tường thuật vụ này như sau:  “Trong khi tìm kiếm máy bay vận tải C-46 của thủy quân lục chiến, phi công giàu kinh nghiệm Kenneth Arnold đã chuyển hướng phi cơ khỏi đường bay ban đầu để tìm sườn phía tây nam của núi Rainier. Trong quá trình đó, Arnold trông thấy 9 vật thể “trông kỳ dị”, “hình tròn”, bay theo đội hình. Arnold ước tính chúng bay với tốc độ hơn 1.000 dặm một giờ. Khi ông ta báo cáo về vật thể lạ (và cho rằng chúng là một loại máy bay phản lực hoặc máy bay quân sự đang được thử nghiệm), Không quân Mỹ đã bác bỏ, rằng đó chỉ là ảo ảnh hoặc ảo giác”.

Arnold cho rằng việc quân đội bác bỏ những tuyên bố của mình là quá vội vàng, và ông tìm đến báo chí. Cuộc thảo luận của ông với phóng viên tờ Đông Oregonia đã dẫn đến việc phóng viên Bequette tạo ra thuật ngữ “đĩa bay” để mô tả những vật thể bất thường mà Arnold nói đã nhìn thấy.

Khi đó, bộ máy tình báo của Mỹ còn non trẻ. Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS) giải thể vào năm 1945, và đơn vị kế nhiệm, Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), thành lập 3 tháng sau khi Arnold báo cáo về việc nhìn thấy vật thể bay lạ. Nếu vật thể bí ẩn bay trong không phận là thật, khi đó Mỹ không có khả năng biết chúng đến từ đâu: Liên Xô? Kẻ thù nước ngoài? Người ngoài hành tinh?

Khi đó, điều quan trọng là phải điều tra xem liệu những tuyên bố này có đúng sự thật hay không và cũng quan trọng không kém là phải trấn an công chúng Mỹ đang lo lắng rằng không có lý do gì để báo động.

Không quân Mỹ đã tuyển dụng Hynek làm “cố vấn thiên văn” cho Dự án Sign, ra đời nhằm mục đích kiểm tra tính chính xác của các báo cáo. Trong suốt Dự án Sign, Hynek đã phân tích tỉ mỉ từng trường hợp bất thường xảy ra trên không và phân loại. Theo Biography, “có những quan sát thiên văn đơn giản, như sự xuất hiện của một thiên thạch, những quan sát được giải thích bằng khí tượng học, giống như một đám mây có hình dạng bất thường, và những quan sát ghi lại các vật thể nhân tạo, như bóng bay. Còn lại khoảng 20% số vụ việc hay hiện tượng không có lời giải thích rõ ràng”.

Các bài viết sau này của Hynek cho thấy rằng ông đã hy vọng có những cuộc điều tra bổ sung để giải quyết các câu hỏi được đặt ra bởi 20% trường hợp không giải thích được. Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ  lo ngại về những nỗi sợ hãi của công chúng trong Chiến tranh lạnh và khả năng những nỗi sợ hãi đó bị thao túng, đã muốn loại bỏ những câu hỏi như vậy. Và vì vậy, Dự án Sign đã biến đổi thành Dự án Grudge.

Dự án Grudge chỉ công bố một báo cáo vào tháng 8/1949. “Không có bằng chứng nào cho thấy các vật thể được báo cáo là kết quả của sự phát triển khoa học tiên tiến ở nước ngoài và do đó chúng không tạo thành mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia”, báo cáo xác định và khuyến nghị “giảm phạm vi điều tra và nghiên cứu các báo cáo về vật thể bay không xác định”.

Hynek, vỡ mộng với hướng đi của cuộc điều tra, mô tả Dự án Grudge là một “chiến dịch truyền thông PR”.

Dự án Blue Book

Kết luận của Dự án Grudge đã không dập tắt được mối lo ngại về thứ mà ngày nay mọi người gọi là “vật thể bay không xác định” hay UFO. Vì vậy, Không quân Mỹ đã tiếp tục các cuộc điều tra một lần nữa với Dự án Blue Book.

Không quân một lần nữa đưa Hynek vào Dự án Blue Book, cho phép ông tự mình tiến hành điều tra thực địa. Quan điểm của Hynek về các lý thuyết ngoài Trái đất liên quan đến những cảnh tượng không giải thích được đã phát triển từ những ngày ông tham gia Dự án Sign. Theo Biography, “mặc dù hoài nghi, nhưng Hynek nhận thấy các giả định của mình bị thách thức bởi sự hợp lý trong lời kể của các nhân chứng. Ông bắt đầu suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc về những vật thể bay không xác định hay UFO này”.

Tuy nhiên, Hynek nhanh chóng nhận ra rằng ông được coi là một công cụ để bác bỏ những suy đoán về người ngoài hành tinh hơn là một nhà khoa học được giao nhiệm vụ khám phá những khả năng như vậy. Theo Biography, “vào những năm 1960, Hynek nhận thấy mình xung đột với sự giám sát của Không quân”.

Một sự cố đặc biệt đáng xấu hổ đối với Hynek xảy ra vào năm 1966, khi ông được cử đi điều tra “các báo cáo về ánh sáng bất thường” ở một số khu vực của bang Michigan trong nhiều đêm liên tiếp. Bị buộc phải tránh xa các lý thuyết ngoài Trái đất, Hynek phải công khai lên tiếng giải thích rằng những cảnh tượng người ta nhìn thấy có thể là do “khí ga đầm lầy”.

Thuật ngữ “khí ga đầm lầy” đã trở cụm từ dùng để giễu nhại phổ biến vào giữa những năm 60. Lãnh đạo phe thiểu số tại Hạ viện Mỹ và tổng thống tương lai Gerald Ford đã yêu cầu câu trả lời cho cuộc điều tra. Được kêu gọi làm chứng, Hynek đã tận dụng cơ hội này để tranh luận, đề xuất thực hiện một nghiên cứu sâu rộng, minh bạch về UFO.

Như vậy, Hynek đã vi phạm chỉ thị của Không quân Mỹ và chỉ 3 năm sau, Dự án Blue Book bị chấm dứt hoàn toàn. Nhưng điều đó không ngăn cản được nhà thiên văn học.

Sau dự án Blue Book

Không còn ràng buộc với Không quân, Hynek đã khởi xướng một chiến dịch công khai nhằm thúc đẩy cuộc điều tra khoa học về cái mà ông gọi là “ufology”. Nỗ lực này lần đầu tiên được hiện thực hóa trong cuốn sách năm 1972 của ông mang tên Trải nghiệm UFO: Một cuộc điều tra khoa học.

Hynek đã viết về suy nghĩ của ông trong việc nghiên cứu UFO, những quan sát của ông trong nhiều thập kỷ làm việc trong dự án Sign và Blue Book, cũng như phân tích các trường hợp “nhìn thấy UFO”, bao gồm cả những lần “nhìn thấy” ở xa và gần. Ông chia những báo cáo “nhìn thấy vật thể bay không xác định” thành ba loại.

Ở dạng thứ nhất, UFO được nhìn thấy trong một khoảng cách đủ gần để nhận diện một số chi tiết. Ở dạng thứ hai, UFO có tác dụng vật lý, chẳng hạn như thiêu rụi cây cối, khiến động vật sợ hãi hoặc khiến động cơ ôtô đột ngột ngừng hoạt động. Dạng thứ ba, các nhân chứng nói đã nhìn thấy những người ở trong hoặc gần UFO.

Hạng mục thứ ba là nguồn cảm hứng cho bộ phim kinh điển năm 1977 của đạo diễn lừng danh Steven Spielberg có tựa đề “Close Encounters of the Third Kind” (Gặp gỡ loại thứ ba: Giao tiếp với người ngoài hành tinh).

Hynek được cho là đã nhận tiền để làm cố vấn cho đoàn phim. Ông cũng xuất hiện trên các chương trình TV, diễn thuyết trong trường đại học và thậm chí còn trình bày về UFO trước Liên hợp quốc. Tác phẩm của ông đã truyền cảm hứng cho loạt phim truyền hình dài hai mùa phát sóng vào những năm 2010, được đặt tên là Dự án Blue Book.

Mặc dù vậy, Hynek chưa bao giờ hoàn toàn chấp nhận các thuyết âm mưu.

Di sản của Hynek

Năm 1986, năm Hynek qua đời, nhà lý luận về thuyết âm mưu George C. Andrews đã xuất bản “Người ngoài hành tinh giữa chúng ta”, một cuốn sách kết hợp các ý tưởng về UFO với những ý tưởng hiện có về âm mưu của chính phủ và các tổ chức bí mật. Trong tầm nhìn của Andrews về một âm mưu toàn cầu, ông tuyên bố người ngoài hành tinh đứng sau vụ sát hại Tổng thống John F. Kennedy.

Năm 1991, nhà lý luận thuyết âm mưu Bill Cooper đã kết hợp các lý thuyết của Andrews vào Behold a Pale Horse, một trong những cuốn sách được đọc rộng rãi về các âm mưu chính trị.

Di sản của Hynek có nguy cơ bị lu mờ bởi những lý thuyết cực đoan và mang tính chính trị của những nhà nghiên cứu UFO tự xưng xuất hiện sau ông. Tham vọng của ông là giúp ngành UFO học được công nhận là một lĩnh vực khoa học hợp pháp; tuy nhiên, sự gia tăng của các thuyết âm mưu xuất hiện sau ông đã khiến chính phủ Mỹ có thêm lý do để bác bỏ hoàn toàn chủ đề này.

Báo cáo mới của AARO cho biết rằng trong thời gian Hynek làm việc với Dự án Blue Book, “khoảng 75% người Mỹ tin tưởng chính phủ Mỹ “luôn luôn hoặc hầu hết thời gian làm điều đúng đắn”. Tuy nhiên, báo cáo lưu ý , kể từ năm 2007, con số đó chưa bao giờ lên trên 30%.

“Sự thiếu tin tưởng này có lẽ đã góp phần khiến một số bộ phận người dân Mỹ tin rằng chính phủ đã không trung thực về câu chuyện phi thuyền ngoài Trái đất”, báo cáo viết.

Nguyễn Xuân Thủy

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.