Chuyện về “người điều tra đĩa bay”

Công việc của ông là khám phá những bí mật từ những điều chưa biết. Nhưng sự tò mò của ông đã mở ra những cánh cửa mà chính phủ Mỹ luôn muốn đóng lại.

Đó là thông điệp cơ bản của một báo cáo được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố tháng 3/2024. Báo cáo dài 63 trang về sự liên can của Chính phủ Mỹ với các hiện tượng bất thường không xác định (UAP) kết luận rằng Văn phòng giải quyết bất thường toàn miền (AARO) của Bộ Quốc phòng Mỹ “không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy có sự hiện diện của công nghệ ngoài trái đất”.

AARO, theo The Guardian, là “một văn phòng chính phủ được thành lập vào năm 2022 để phát hiện và khi cần thiết, giảm thiểu các mối đe dọa từ “các vật thể dị thường trên không, dưới nước hoặc đa môi trường”.

Báo cáo cho thấy sự mâu thuẫn với nội dung phiên điều trần nổi bật nhất về UAP - trước đây được gọi là vật thể bay không xác định hoặc UFO - trong nhiều thập kỷ: lời khai tháng 8/2023 của “người thổi còi” Dave Grusch.

Chuyện về “người điều tra đĩa bay” -0
Josef Allen Hynek, ảnh chụp năm 1972.

Trong phiên điều trần gây xôn xao dư luận, Grusch, cựu thành viên Lực lượng đặc nhiệm UAP của Lầu Năm Góc, tuyên bố rằng ông đã được biết về “Chương trình thu hồi và phân tích vật thể bay không xác định kéo dài nhiều thập kỷ”. Nhưng những tuyên bố của ông ta chưa bao giờ được chứng minh, và mặc dù báo cáo mới không đề cập cái tên Grusch, nhưng nó đưa ra những lời giải thích cho những hiện tượng mà ông ta mô tả trong lời khai.

Đây không phải là báo cáo đầu tiên của chính phủ Mỹ bác bỏ những câu chuyện về những người ngoài hành tinh nhỏ bé màu xanh lá cây và những chiếc đĩa bay kỳ lạ của họ. Vậy tại sao người Mỹ cứ bám vào thuyết âm mưu du khách ngoài Trái đất? Đổ lỗi cho khoa học viễn tưởng, báo cáo của AARO viết:

“Có một chủ đề nhất quán trong văn hóa đại chúng liên quan đến câu chuyện đặc biệt dai dẳng rằng Chính phủ Mỹ hoặc một tổ chức bí mật của chính phủ đã phục hồi được một số tàu vũ trụ ngoài hành tinh và hài cốt người ngoài Trái đất, rằng Mỹ vận hành một hoặc nhiều chương trình nhằm phục hồi công nghệ (ngoài Trái đất) và rằng từ những năm 1940 Chính phủ Mỹ đã nỗ lực che giấu việc này với quốc hội và công chúng Mỹ.

AARO nhận ra rằng nhiều người thực sự tin vào việc này dựa trên nhận thức của họ về trải nghiệm trong quá khứ, trải nghiệm của những người khác mà họ tin tưởng hoặc các phương tiện truyền thông mà họ tin là nguồn thông tin đáng tin cậy và có thể kiểm chứng. Sự phổ biến của các chương trình truyền hình, sách, phim cũng như lượng lớn nội dung trên Internet và mạng xã hội tập trung vào các chủ đề liên quan đến UAP rất có thể đã ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về chủ đề và củng cố niềm tin này trong một bộ phận dân chúng”.

Internet đã giúp những người tò mò tiếp cận với lĩnh vực UFO học. Nhưng để hiểu đầy đủ sự hoài nghi hiện nay của công chúng đối với những lời giải thích do Chính phủ Mỹ đưa ra về người ngoài hành tinh, chúng ta phải xem xét người từng chịu trách nhiệm ủng hộ những câu chuyện “chính thức” này - và xem xét quá trình biến đổi của ông từ một người hoài nghi thành người ủng hộ nhận định rằng UFO tồn tại.

Allen Hynek là ai?

Josef Allen Hynek, sinh ngày 1/5/1910, bắt đầu quan tâm đến vũ trụ sau một lần bị ốm hồi còn nhỏ. Căn bệnh đã khiến cậu bé rời xa việc đi theo bước chân của mẹ, một giáo viên và cha, nhà sản xuất xì gà, để hướng tới vũ trụ. Tiểu sử của Hynek viết:

“Mối quan tâm tới các vì sao xuất hiện sau khi Hynek phải nằm liệt giường vì bệnh ban đỏ lúc 7 tuổi. Sau khi cậu đọc hết số sách dành cho trẻ em, mẹ Hynek đưa cho con trai một số sách giáo khoa của học sinh trung học và cuốn sách thiên văn học đã thu hút sự chú ý của cậu bé”.

Ngay từ khi còn nhỏ, niềm đam mê khoa học của Hynek đã pha trộn với thiên hướng bí ẩn và sở thích nghiên cứu các tư tưởng triết học.

Năm 1934, với tư cách là nghiên cứu sinh tiến sĩ, Hynek đã đóng góp vào việc quan sát siêu tân tinh Nova Herculis tại Đài thiên văn Perkins ở Ohio (siêu tân tinh là vụ nổ của một ngôi sao lớn sắp kết thúc vòng đời, là một trong những vụ nổ sáng nhất trong vũ trụ, có thể sáng hơn cả một thiên hà. Vụ nổ có thể nhìn thấy trong nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần).

Năm 1936, Hynek gia nhập Khoa Vật lý và Thiên văn của Đại học bang Ohio. Nghiên cứu của ông trong 12 năm tiếp theo đã lên đến đỉnh cao khi ông được bổ nhiệm làm giám đốc Đài thiên văn McMillin của trường đại học.

Và đó là lúc đại diện chính phủ Mỹ gọi điện đến với một yêu cầu bất thường.

Hynek đã dính líu đến UFO như thế nào?

Trong những ngày cuối của Thế chiến II, các phi công chiến đấu Mỹ cho biết đã nhìn thấy những chiếc máy bay không giống bất kỳ chiếc máy bay nào từng gặp trong chiến đấu. Một số người mô tả “những ánh sáng chảy màu cam”, trong khi một phi công khác “nhìn thấy một vật thể màu đỏ, không có cánh, hình điếu xì gà”.

Những lời tường thuật này đã đến tai giới truyền thông. Nhưng những hiện tượng này cuối cùng được giải thích là do “hiện tượng tĩnh điện hoặc điện từ”.

Tuy nhiên, vụ việc liên quan đến phi công Kenneth Arnold vào ngày 24/6/1947 không được giải thích rõ ràng và quan trọng hơn là không dễ bị bác bỏ.

Tạp chí PopMech tường thuật vụ này như sau:  “Trong khi tìm kiếm máy bay vận tải C-46 của thủy quân lục chiến, phi công giàu kinh nghiệm Kenneth Arnold đã chuyển hướng phi cơ khỏi đường bay ban đầu để tìm sườn phía tây nam của núi Rainier. Trong quá trình đó, Arnold trông thấy 9 vật thể “trông kỳ dị”, “hình tròn”, bay theo đội hình. Arnold ước tính chúng bay với tốc độ hơn 1.000 dặm một giờ. Khi ông ta báo cáo về vật thể lạ (và cho rằng chúng là một loại máy bay phản lực hoặc máy bay quân sự đang được thử nghiệm), Không quân Mỹ đã bác bỏ, rằng đó chỉ là ảo ảnh hoặc ảo giác”.

Arnold cho rằng việc quân đội bác bỏ những tuyên bố của mình là quá vội vàng, và ông tìm đến báo chí. Cuộc thảo luận của ông với phóng viên tờ Đông Oregonia đã dẫn đến việc phóng viên Bequette tạo ra thuật ngữ “đĩa bay” để mô tả những vật thể bất thường mà Arnold nói đã nhìn thấy.

Khi đó, bộ máy tình báo của Mỹ còn non trẻ. Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS) giải thể vào năm 1945, và đơn vị kế nhiệm, Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), thành lập 3 tháng sau khi Arnold báo cáo về việc nhìn thấy vật thể bay lạ. Nếu vật thể bí ẩn bay trong không phận là thật, khi đó Mỹ không có khả năng biết chúng đến từ đâu: Liên Xô? Kẻ thù nước ngoài? Người ngoài hành tinh?

Khi đó, điều quan trọng là phải điều tra xem liệu những tuyên bố này có đúng sự thật hay không và cũng quan trọng không kém là phải trấn an công chúng Mỹ đang lo lắng rằng không có lý do gì để báo động.

Không quân Mỹ đã tuyển dụng Hynek làm “cố vấn thiên văn” cho Dự án Sign, ra đời nhằm mục đích kiểm tra tính chính xác của các báo cáo. Trong suốt Dự án Sign, Hynek đã phân tích tỉ mỉ từng trường hợp bất thường xảy ra trên không và phân loại. Theo Biography, “có những quan sát thiên văn đơn giản, như sự xuất hiện của một thiên thạch, những quan sát được giải thích bằng khí tượng học, giống như một đám mây có hình dạng bất thường, và những quan sát ghi lại các vật thể nhân tạo, như bóng bay. Còn lại khoảng 20% số vụ việc hay hiện tượng không có lời giải thích rõ ràng”.

Các bài viết sau này của Hynek cho thấy rằng ông đã hy vọng có những cuộc điều tra bổ sung để giải quyết các câu hỏi được đặt ra bởi 20% trường hợp không giải thích được. Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ  lo ngại về những nỗi sợ hãi của công chúng trong Chiến tranh lạnh và khả năng những nỗi sợ hãi đó bị thao túng, đã muốn loại bỏ những câu hỏi như vậy. Và vì vậy, Dự án Sign đã biến đổi thành Dự án Grudge.

Dự án Grudge chỉ công bố một báo cáo vào tháng 8/1949. “Không có bằng chứng nào cho thấy các vật thể được báo cáo là kết quả của sự phát triển khoa học tiên tiến ở nước ngoài và do đó chúng không tạo thành mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia”, báo cáo xác định và khuyến nghị “giảm phạm vi điều tra và nghiên cứu các báo cáo về vật thể bay không xác định”.

Hynek, vỡ mộng với hướng đi của cuộc điều tra, mô tả Dự án Grudge là một “chiến dịch truyền thông PR”.

Dự án Blue Book

Kết luận của Dự án Grudge đã không dập tắt được mối lo ngại về thứ mà ngày nay mọi người gọi là “vật thể bay không xác định” hay UFO. Vì vậy, Không quân Mỹ đã tiếp tục các cuộc điều tra một lần nữa với Dự án Blue Book.

Không quân một lần nữa đưa Hynek vào Dự án Blue Book, cho phép ông tự mình tiến hành điều tra thực địa. Quan điểm của Hynek về các lý thuyết ngoài Trái đất liên quan đến những cảnh tượng không giải thích được đã phát triển từ những ngày ông tham gia Dự án Sign. Theo Biography, “mặc dù hoài nghi, nhưng Hynek nhận thấy các giả định của mình bị thách thức bởi sự hợp lý trong lời kể của các nhân chứng. Ông bắt đầu suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc về những vật thể bay không xác định hay UFO này”.

Tuy nhiên, Hynek nhanh chóng nhận ra rằng ông được coi là một công cụ để bác bỏ những suy đoán về người ngoài hành tinh hơn là một nhà khoa học được giao nhiệm vụ khám phá những khả năng như vậy. Theo Biography, “vào những năm 1960, Hynek nhận thấy mình xung đột với sự giám sát của Không quân”.

Một sự cố đặc biệt đáng xấu hổ đối với Hynek xảy ra vào năm 1966, khi ông được cử đi điều tra “các báo cáo về ánh sáng bất thường” ở một số khu vực của bang Michigan trong nhiều đêm liên tiếp. Bị buộc phải tránh xa các lý thuyết ngoài Trái đất, Hynek phải công khai lên tiếng giải thích rằng những cảnh tượng người ta nhìn thấy có thể là do “khí ga đầm lầy”.

Thuật ngữ “khí ga đầm lầy” đã trở cụm từ dùng để giễu nhại phổ biến vào giữa những năm 60. Lãnh đạo phe thiểu số tại Hạ viện Mỹ và tổng thống tương lai Gerald Ford đã yêu cầu câu trả lời cho cuộc điều tra. Được kêu gọi làm chứng, Hynek đã tận dụng cơ hội này để tranh luận, đề xuất thực hiện một nghiên cứu sâu rộng, minh bạch về UFO.

Như vậy, Hynek đã vi phạm chỉ thị của Không quân Mỹ và chỉ 3 năm sau, Dự án Blue Book bị chấm dứt hoàn toàn. Nhưng điều đó không ngăn cản được nhà thiên văn học.

Sau dự án Blue Book

Không còn ràng buộc với Không quân, Hynek đã khởi xướng một chiến dịch công khai nhằm thúc đẩy cuộc điều tra khoa học về cái mà ông gọi là “ufology”. Nỗ lực này lần đầu tiên được hiện thực hóa trong cuốn sách năm 1972 của ông mang tên Trải nghiệm UFO: Một cuộc điều tra khoa học.

Hynek đã viết về suy nghĩ của ông trong việc nghiên cứu UFO, những quan sát của ông trong nhiều thập kỷ làm việc trong dự án Sign và Blue Book, cũng như phân tích các trường hợp “nhìn thấy UFO”, bao gồm cả những lần “nhìn thấy” ở xa và gần. Ông chia những báo cáo “nhìn thấy vật thể bay không xác định” thành ba loại.

Ở dạng thứ nhất, UFO được nhìn thấy trong một khoảng cách đủ gần để nhận diện một số chi tiết. Ở dạng thứ hai, UFO có tác dụng vật lý, chẳng hạn như thiêu rụi cây cối, khiến động vật sợ hãi hoặc khiến động cơ ôtô đột ngột ngừng hoạt động. Dạng thứ ba, các nhân chứng nói đã nhìn thấy những người ở trong hoặc gần UFO.

Hạng mục thứ ba là nguồn cảm hứng cho bộ phim kinh điển năm 1977 của đạo diễn lừng danh Steven Spielberg có tựa đề “Close Encounters of the Third Kind” (Gặp gỡ loại thứ ba: Giao tiếp với người ngoài hành tinh).

Hynek được cho là đã nhận tiền để làm cố vấn cho đoàn phim. Ông cũng xuất hiện trên các chương trình TV, diễn thuyết trong trường đại học và thậm chí còn trình bày về UFO trước Liên hợp quốc. Tác phẩm của ông đã truyền cảm hứng cho loạt phim truyền hình dài hai mùa phát sóng vào những năm 2010, được đặt tên là Dự án Blue Book.

Mặc dù vậy, Hynek chưa bao giờ hoàn toàn chấp nhận các thuyết âm mưu.

Di sản của Hynek

Năm 1986, năm Hynek qua đời, nhà lý luận về thuyết âm mưu George C. Andrews đã xuất bản “Người ngoài hành tinh giữa chúng ta”, một cuốn sách kết hợp các ý tưởng về UFO với những ý tưởng hiện có về âm mưu của chính phủ và các tổ chức bí mật. Trong tầm nhìn của Andrews về một âm mưu toàn cầu, ông tuyên bố người ngoài hành tinh đứng sau vụ sát hại Tổng thống John F. Kennedy.

Năm 1991, nhà lý luận thuyết âm mưu Bill Cooper đã kết hợp các lý thuyết của Andrews vào Behold a Pale Horse, một trong những cuốn sách được đọc rộng rãi về các âm mưu chính trị.

Di sản của Hynek có nguy cơ bị lu mờ bởi những lý thuyết cực đoan và mang tính chính trị của những nhà nghiên cứu UFO tự xưng xuất hiện sau ông. Tham vọng của ông là giúp ngành UFO học được công nhận là một lĩnh vực khoa học hợp pháp; tuy nhiên, sự gia tăng của các thuyết âm mưu xuất hiện sau ông đã khiến chính phủ Mỹ có thêm lý do để bác bỏ hoàn toàn chủ đề này.

Báo cáo mới của AARO cho biết rằng trong thời gian Hynek làm việc với Dự án Blue Book, “khoảng 75% người Mỹ tin tưởng chính phủ Mỹ “luôn luôn hoặc hầu hết thời gian làm điều đúng đắn”. Tuy nhiên, báo cáo lưu ý , kể từ năm 2007, con số đó chưa bao giờ lên trên 30%.

“Sự thiếu tin tưởng này có lẽ đã góp phần khiến một số bộ phận người dân Mỹ tin rằng chính phủ đã không trung thực về câu chuyện phi thuyền ngoài Trái đất”, báo cáo viết.

Nguyễn Xuân Thủy

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.