Câu chuyện thứ 20:

Chuyện của NSƯT Mạnh Dung

Cải lương là niềm đam mê cả đời nhưng những bộ phim cũng cho tôi không ít. Điều lớn nhất tôi đạt được chính là tình yêu thương của khán giả. Người ta thương một ông già Nam Bộ, tuy hom hem nhưng quắc thước, nhỏ bé thôi mà cứng cỏi, can trường. Cho đến bây giờ khi tôi nói tôi chính gốc miền Bắc đây, nhiều người vẫn cứ lắc đầu, cho là tôi nói xạo.

1. Cha làm nghề soát vé của chuyến tàu Bắc – Nam, nên cả gia đình cũng phải bồng bế nhau trên những toa tàu. Tôi lọt lòng mẹ, nhau vừa chôn xuống còn nóng hổi, tàu đã rời đi. Hun hút cánh đồng, hun hút rừng cây, tôi thường ngồi bám vào ô cửa kiếng tàu, ngoái về phía sau, để ngơ ngác nhìn mọi thứ trôi vào hun hút. Tờ giấy khai sinh, ô quê quán còn để trống, bởi ga nào cũng là đất, là quê. Những đêm khuya khoắt, tàu vào ga tỉnh lẻ, giấc ngủ tròng trành trong tiếng rao gấp rút, đèn neon xanh xao bên kia cửa kiếng, loang loáng vào đêm. Ngày ấy, tàu dừng ga là lại đòi mẹ ôm xuống đất, để chân trần chạy nhảy cùng các anh, rồi bắt con chuồn chuồn, ngắt cọng lau… Tàu kéo còi lại phải tiếc nuối leo lên toa, rồi bám ô cửa kiếng nhìn mọi thứ trôi hun hút sau lưng.

Lên 7 tuổi, tôi được thỏa khát khao chạm đất. Thời ấy Nhật Pháp đảo chính, cả gia đình dắt díu nhau chạy loạn, rồi dạt về vùng rừng núi Gia Viễn, Ninh Bình. Thời ấy khó lắm, máy bay gầm rú trên đầu, dưới chân rắn, vắt chực chờ cắn người, hút máu. Trẻ con mà, dù ở trong hoàn cảnh nào, cứ được chơi là đã đủ vui. Nhưng tôi không được chơi nhiều, bởi dân làng ít, bạn đồng lứa chẳng có ai. Núi rừng hoang vu quá, mỗi khi một mình tôi hay hát để tự trấn an.

Mà tôi mê hát lắm, tôi theo cha gánh củi, nghe tiếng hát cheo leo trên sườn núi, về bập bẹ hát theo. Tôi giúp mẹ thổi cơm, thấy lửa bập bùng cũng nổi hứng nhẩn nha vài câu hát cũ. Rồi hát mọi lúc, mọi nơi như một thói quen. 5 năm sau, giặc càn vào rừng, cha bỏ núi, tìm đường về đồng bằng. Những ngày tháng ấy, không nơi nào lưu trú lại quá lâu. Khi thì Hà Nội, lúc lại dạt về quê cha ở Phủ Lý, Hà Nam , khói cơm nhà lẩn khuất ở những ngôi làng, vùng đất chưa kịp quen tên.

Chắc tại tôi lớn lên trên những chuyến tàu xuôi ngược, nên vận số lang bạt kỳ hồ cũng cứ thế lẽo đẽo theo tôi. Ngay cả cái nghề tôi chọn cũng phải rày đây mai đó, dầu dãi gió sương. Phải vài năm sau cả gia đình mới “cắm dùi” được ở Hà Nội. Tôi theo cha, học đủ thứ nghề, làm đủ thứ việc. Rồi vừa làm vừa hát cho vơi nhọc nhằn. Có lần, tôi đi đóng đinh tán cho người ta, mang theo thói quen cũ hát theo nhịp… búa.

Tình cờ, ông bầu Đoàn cải lương Chuông Vàng đi ngang qua, thấy tôi hát ngồ ngộ liền đặt vấn đề, rồi từ đó tôi được đi học lớp diễn viên sân khấu trong trường của Sở Văn hóa Hà Nội. Gian khổ quen rồi, vào trường lại thấy sướng, được nuôi cơm ba bữa, lại được các thầy dạy hát, dạy biểu diễn và được cái lớn nhất trong đời, là duyên số với vợ tôi – nghệ sĩ Thanh Dậu.

Chuyện của NSƯT Mạnh Dung ảnh 1

2. Tường tận các ngón nghề, tôi đi hát. Tuy được làm kép chính, nhưng không hiểu sao, trong lòng vẫn thấy thiếu thiếu một điều gì đó. Cái nôi của cải lương bắt nguồn từ Nam Bộ, tôi là người Bắc nên khi ngân nga, “xuống xề” một câu vọng cổ, tôi vẫn thấy chưa hay, chưa thỏa mãn sự mong mỏi được khám phá hết khả năng của bản thân. May mắn sao, giai đoạn đó có một số nghệ sĩ miền Nam ra Bắc tập kết, rồi hình thành nên Đoàn cải lương Nam Bộ. Lúc ấy, không hiểu sao, lòng tôi nôn nao lạ kỳ.

Tôi muốn hát cải lương như một người Nam Bộ. Tôi bàn với vợ, rồi hai vợ chồng cùng xin được về đây. Tôi thường nói với vợ, cứ đam mê là sẽ làm được. Tôi cố gắng nói chuyện rất nhiều với anh em nghệ sĩ là người miền Nam trong đoàn, học cách họ nói, học cách họ ca. Phải nói bằng một chất giọng khác, hát bằng một kiểu cách khác, thật khó vô cùng. Nhưng rồi, mọi việc cũng dần ổn thỏa.

Đã chọn là nghệ sĩ, phải chấp nhận một cuộc đời rày đây mai đó. Tôi từ nhỏ đã quen với việc chưa kịp lưu luyến tình người, tình đất đã phải rời đi, chỉ thương cho vợ tôi… Dù bà ấy cũng là đào chính, cũng một lòng đam mê, nhưng nhìn vợ bụng mang dạ chửa, cùng theo tôi dãi nắng dầm sương, xót xa không biết để đâu cho hết. Rồi con gái ra đời, hai vợ chồng tôi vẫn tiếp tục những chuỗi ngày rong ruổi. Hễ vợ diễn thì chồng ẵm con, rồi đến lượt chồng ra sân khấu, vợ phải lui vào bồng bế dỗ dành. Nhiều khi vợ tập tuồng mệt lả, trong giấc ngủ chập chờn, còn giật mình lo con khóc. Thương vợ, và cũng sợ con khóc ảnh hưởng đến những phút nghỉ ngơi ít ỏi của anh em, tôi ôm con ra gốc đa, gốc mít. Dỗ con ngủ mà nghèn nghẹn lời ru.

Cũng may, đó là cái thời mà người ta sống bằng lý tưởng. Thứ lý tưởng mạnh mẽ vô biên khiến tiếng hát vút lên trên lửa đạn, nghèo đói có là gì, thiếu thốn chẳng hề chi. Củ khoai bẻ nửa cũng đủ sức diễn trọn một lớp tuồng, máy bay gào thét trên đầu không làm run một hơi vọng cổ. Chúng tôi đã trải qua một thời kỳ hoa lửa.

Năm 1975, tôi và vợ đi cùng Đoàn cải lương Nam Bộ về Sài Gòn. Sau đó 1 năm, lại phải trở ra Hà Nội do thủ đô đang xây dựng nhà hát cải lương, và rất cần anh em nghệ sĩ. Người xưa nói chí phải, cái nghề là cái nghiệp. Nhiều khi ngẫm nghĩ, có khi, bởi mình sinh ra trên những chuyến tàu, nên cuộc đời cứ ngược xuôi, đi về mải miết.

Cũng chẳng làm sao, bởi con tàu phải chuyển bánh mới là sống đời của nó. Vào khoảng năm 1978 - 1979, Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội được thành lập, tôi cùng vợ được vinh dự là lớp học trò đầu tiên của ngôi trường này. Năm 1984, hai vợ chồng lại được điều vào dạy tại thành phố Hồ Chí Minh. Tôi lại phải “rời ga” lần nữa, nhưng đợt đi này cuối cùng cũng đã được dừng chân.

3. Tôi vào miền Nam không ít lần, và khi đã định cư lại thấy lòng gắn kết nhiều hơn. Đặc sản vô giá của nơi đây chính là con người. Cái tình, cái tính của người miền Nam chân chất quá. Và phóng khoáng, và thật đến nao lòng. Chính vì yêu quá mảnh đất này, nên khi đóng phim tôi, vào vai người Nam Bộ mà người ta vẫn thường nói đùa, “còn giống hơn người Nam Bộ”.

Cũng bởi, tính tôi đã quyết định làm, thì phải làm cho đến nơi đến chốn. Tôi không nề hà điều gì, chỉ sợ mình diễn chưa hay, mình làm chưa tới, chứ bao gian nan trong nghề đã trải, còn ngại chi mấy điều khổ khó. Có lần, tôi về Bình Thuận đóng phim, vai một lão ngư chuyên làm nước mắm. Để nhập tâm, việc gì bà con đang làm là tôi cũng học theo.

Tôi cứ sang thùng này rải muối, qua thùng nọ xếp cá, chạy tới chạy lui. Dân quanh vùng cứ kháo, không biết ông này là diễn viên hay nhà làm mắm thứ thiệt mà cái gì cũng biết. Tôi cứ nhủ thầm, coi vậy là mình hóa thân được rồi, tự nhiên thấy vui. Tính tôi hay dễ vui vì những điều nho nhỏ.

Vai diễn ông Ba bắt rắn trong bộ phim Đất Phương Nam đã khiến tôi định hình trong lòng khán giả như một ông già Nam Bộ điển hình. Là ông Ba lành như hòn đất, cọng rau nhưng lại sẵn sàng dang tay che chở những mảnh đời bất hạnh. Tôi cảm được cái tình trong từng hành động, cử chỉ của ông Ba và cứ thế mà diễn, như ông Ba là chính cuộc đời của mình.

Cải lương là niềm đam mê cả đời nhưng những bộ phim cũng cho tôi không ít. Điều lớn nhất tôi đạt được chính là tình yêu thương của khán giả. Người ta thương một ông già Nam Bộ, tuy hom hem nhưng quắc thước, nhỏ bé thôi mà cứng cỏi, can trường. Cho đến bây giờ khi tôi nói tôi chính gốc miền Bắc đây, nhiều người vẫn cứ lắc đầu, cho là tôi nói xạo.

4. Ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” tôi tự biết mình đã già, mà ai già chắc hẳn cũng hay buồn, hay nhớ về những ngày xưa. Được cái, tôi chưa bao giờ hối hận vì con đường mình đã đi, cái nghiệp mà mình lựa chọn. Chỉ hay thấy cảm thương cho vợ tôi, một bên nhọc nhằn con cái, một bên theo đuổi công danh, rồi lại phải tất bật vun vén, chưa bao giờ để tôi phật ý điều chi. Mà nói thương thôi, thì chưa có đủ, phải gọi là tôi cảm kích vợ tôi. Tôi ngẫm nghĩ, người ta gọi vợ, gọi chồng là “người bạn đời” quả không còn gì đúng hơn.

Họ cưới nhau vì cái tình, mà để sống được với nhau thì còn cái nghĩa. “Muối mặn gừng cay” là thế. Tôi yếu rồi, cũng đã về hưu, may còn có bà để chăm nom nhau sáng tối. Giờ tôi đi đóng phim lác đác, có chuyến nào đi dài ngày, thấy bà ấy lo là tôi lại tội. Bà gói ghém nào áo lạnh, thuốc ho, sợ trái gió trở trời, sợ mưa, sợ nắng, cứ nghĩ đến điều gì có thể ảnh hưởng tới tôi là bà lại lo nơm nớp. Bởi vậy tôi hay nói, nếu mà nhắc về tôi thì phải kể luôn cả vợ tôi, vì cuộc đời, sự nghiệp của tôi gắn liền với bà ấy. Sướng vui cùng cam, gian khổ cùng gánh chịu. Nói dại, thà cho tôi đi trước, chứ bà ấy có ốm đau gì chắc tôi cũng không sống nổi.

Tự nhiên tôi lại nhớ về những chuyến tàu, nhớ về những ngày tôi bám ô cửa kiếng, ngoái về phía sau đến trẹo cổ, tròn xoe ánh nhìn hun hút. Lại tự cười, đã từ rất lâu tôi không còn tha thiết ngoái về phía sau nữa, bởi tôi đã nhận ra rằng, bà ấy chính là ga dừng đỗ cuối cùng của cuộc đời tôi

Hồ Ngọc Giàu

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.