Câu chuyện thứ 37:

Chuyện của nghệ sĩ ưu tú Bùi Cường

1. Đôi khi, tôi nghĩ, thời gian tuy không trở lại nhưng tuần hoàn để người ta được gặp lại mình trong cái vòng xoay đó. Tất cả những chuyện đã xảy ra, tất cả những người đã khuất vẫn in nguyên trong trí nhớ tôi. Tôi không có quá khứ, cũng không có dĩ vãng như người ta thường nói. Tôi chỉ có kỷ niệm. Đong đầy, chất chồng theo năm tháng. Thời gian bôi xóa, thời gian tàn phai, thời gian bung phá. Màu mắt trong. Màu tóc xanh. Màu môi hồng. Màu thanh tân của gương mặt. Từ từ, dữ dội và hồn nhiên. Chỉ có kỷ niệm hiển hiện, mồn một.

Nhiều đêm giật mình, chập chờn trong giấc ngủ ở phương Nam xa xôi này, nằm nghe tiếng máy lạnh chạy rì rì mà lòng tôi chợn rợn. Mắt tôi ngộp màu áo nâu thơm mùi mồ hôi của mẹ. Tóc tôi, trán tôi, má tôi vẫn còn phảng phất nụ hôn của mẹ. Mỗi lần nghe hương thơm ấy ùa về, tôi như đi lạc vào cuộn phim âm bản tuổi thơ mình. Nước mắt cứ rỉ ra khóe rồi dâng ngập mắt. Trong đôi mắt nhòe nhoẹt nước của tuổi nhỏ, tấm lưng mướt mồ hôi, cái dáng đi như trốn chạy của mẹ vẫn hằn sâu lắm.

Ngày ấy, bố tôi là quyết tử quân. Bố hy sinh khi tôi còn nằm trong bụng mẹ. Tôi là con trai duy nhất trong nhà, lại là con út nên mẹ thương tôi lắm. Sợ tôi khắc tuổi đoản mệnh nên lúc tôi vừa chập chững đi, mẹ đem gởi tôi cho gia đình một người bạn. Tuần nào mẹ cũng đi bộ hàng chục cây số lên thăm mà chỉ len lén đứng nhìn ngoài cổng rào. Tôi còn nhỏ đã thiếu hơi ấm của cha, nay lại vắng bàn tay mẹ nên nhạy hơi mẹ lắm. Hôm nào nghe tim chộn rộn, gió mang một làn hơi thân thuộc vòng qua cây khế trước ngõ là tôi thắc thỏm canh chừng. Thấy dáng mẹ đằng xa, tôi ào ra sà vào lòng mẹ, hít lấy hít để mùi hương thân thuộc. Mẹ bế xốc tôi lên, nắn chân nắn tay, cũng hôn lấy hôn để. Cái giỏ bàn của mẹ như một chiếc túi thần kỳ, lúc nào cũng có lắm thứ kỳ diệu hấp dẫn tôi. Khi thì con cào cào lá tre, khi thì nắm xôi cúc thơm dẻo, khi là cái kẹo mạch nha quấn rối… Nhưng ai cần những thứ đó. Tôi chỉ muốn mẹ thôi. Vội cho tôi quà, mẹ quay lưng, giấu nước mắt tất tả chạy ra cổng. Mặc cho người trong nhà giữ chặt, tôi cứ cố lao tới, gào thét, khóc ngằìn ngặåt, khản cổ gọi trong tuyệt vọng: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!…”.

Tôi lên 5 mà vẫn bé choắt vì khóc nhớ mẹ. Thương tôi quá, gia đình cô chú nuôi tôi bàn với mẹ đem tôi về. Xót con, mẹ gật đầu nhưng thâm tâm lúc nào cũng sợ một đấng vô hình nào đó cướp tôi đi mất. Nên tôi về ở với mẹ ít lâu thì mẹ lại gởi tôi ra nhà chú ở Hà Nội đi học. Cả đời mẹ cơ cực, chân đi không chấm đất, ruộng đồng thấm mồ hôi mẹ, vừa nuôi con, vừa nuôi bộ đội. Vậy mà mẹ chưa bao giờ đòi hỏi bất cứ điều gì cho mình. Ngày bố mất, mẹ mới ngoài ba mươi, tóc đen nhánh, lưng vẫn còn thẳng, da vẫn còn căng, môi vẫn còn hồng. Có lần tôi hỏi, sao mẹ không đi bước nữa cho có người đỡ đần sớm hôm, đặng bớt vất vả? Mẹ cười an nhiên: “Tôi không muốn các anh các chị khổ”. Cả đời mẹ vất vả, cái gì cũng chắt chiu để dành cho con cho cháu. Lúc tôi khá lên được chút thì mẹ đã lặng lẽ về với bố…

2.Mẹ nói tôi giống bố như tạc. Vóc dáng tôi mang hình hài của bố. Mấy lúc bị bạn bè ăn hiếp, tôi thường soi mình xuống nước hoặc nhìn vào gương, mường tượng ra bố đang ở bên cạnh mình. Tôi thủ thỉ kể bố nghe nhiều chuyện ở trường, ở lớp. Những lúc buồn, tôi khóc với bố. Tôi biết bố nghe thấy hết, chỉ là bố không ôm tôi được vào lòng để an ủi thôi… Bây giờ vẫn vậy, mấy lúc gặp chuyện không thể chia sẻ được, tôi vẫn thủ thỉ xin bố lời khuyên. Tôi không biết đó là thói quen hay do tôi luôn khát khao tình cảm của bố, thứ tình cảm mà tôi chưa bao giờ có được.

25 tuổi tôi bước chân vào trường điện ảnh từ một sự rất tình cờ. Tiếng là tốt nghiệp trung cấp điện nhưng tôi có nhiều tài lẻ văn nghệ văn gừng nên được cơ quan phân công về đội văn nghệ. Trong thời gian ở đây, tôi tham gia Đội kịch Công nhân thành phố và đoạt Huy chương Vàng với vở Anh Tư. Thấy tôi có khiếu, một đạo diễn đàn anh khuyên nên đi diễn chuyên nghiệp. Tôi nghe rồi để đó, việc nọ kéo việc kia cũng không để ý mấy. Cho đến một ngày có người bạn đến nhờ tôi viết hộ tiểu phẩm để thi vào trường Điện ảnh. Tôi bụng bảo dạ hay là thử nhỉ? Song, lại đắn đo vì lúc ấy tôi đâu còn trẻ để đi học mà cũng chẳng cao to, đẹp trai gì để theo nghiệp diễn… Suốt mấy đêm trằn trọc, giấu đâu đó trong lòng tôi trăm ngàn ngọn lửa bừng bừng cháy, ngọn này nối tiếp ngọn kia, lan mỗi lúc một rộng ra. Ngày cuối cùng, tôi đánh liều làm hồ sơ rồi nhờ người yêu (vợ tôi bây giờ) đi nộp giúp.

Hôm thi năng khiếu, tôi diễn vở Dạy em. BGK lúc đó có cố đạo diễn Phạm Văn Khoa, ông thử tôi bằng phản xạ tình huống hết sức bất ngờ. Lúc tôi đang dọn dẹp nhà cửa, thì có một tiếng gọi “Cường ơi!”. Do nhập vai, tôi trả lời: “Ơi, chờ tao tí!”, rồi quay sang “cậu em” bảo: “Thấy chưa, anh chưa kịp ăn cơm tối, bạn anh đã gọi đi làm ca rồi, vậy mà em không chịu giúp đỡ anh chăm lo nhà cửa…”. Vậy là, tôi trúng tuyển vào lớp diễn viên điện ảnh khóa 2. Tốt nghiệp, tôi được nhận về làm việc tại Hãng Phim truyện Việt Nam. Nghiệp diễn đến với tôi suôn sẻ và nhẹ tênh vậy đó.

3.Tôi có đóng một vài phim song đến khi đóng Chí Phèo trong Làng Vũ Đại ngày ấy, tôi mới được đông đảo khán giả biết đến. Tôi còn nhớ một sáng, đạo diễn Phạm Văn Khoa gặp tôi hỏi: “Cậu có thể cắt tóc ngắn bớt không?” “Dạ, nhưng để làm gì vậy chú?” “Mình muốn mời cậu đóng một vai nhưng tóc thế này thì không hợp”. “Nếu vai diễn cần, cháu sẵn sàng”. – tôi trả lời. Đạo diễn tiết lộ mời tôi vào vai Chí Phèo. Tôi sung sướng: “Nếu được thế thì dù cạo đầu cháu cũng làm”. Đợt đó có nhiều người được mời thử vai Chí Phèo lắm. Hôm tôi đến thử vai, anh bảo vệ ở hãng phim thấy bộ dạng nhếch nhác của tôi, tưởng là gã ăn xin nào, anh không cho vào. Lúc nhận ra, ảnh bảo: “Ông đóng vai gì trông gớm thế?”. Cảnh thử của tôi với chị Đức Lưu chính là cảnh Thị Nở bưng bát cháo hành. Thử xong thì đạo diễn chấm tôi vào vai và lấy đó làm cảnh chính thức luôn.

Đóng phim xong, tôi “mang tiếng” nghiện rượu. Đi đâu cũng bị “chuốc rượu” vì ai cũng nghĩ tôi phải uống ngang ngửa cỡ… Chí Phèo. Một lần tôi đang ngồi uống bia thì thấy có ông kia vác gạch tới ném mình. Lần khác, vừa bước vào quán cháo thì một anh say tiến lại phía tôi: “Này tôi nói cho ông biết, Chí Phèo không phải của riêng ông đâu nhá. Ông nhìn tôi đây này”. Đến tận bây giờ vẫn có nhiều khán giả muốn gặp tôi để coi ông Chí Phèo ngoài đời ra sao… Tính đến nay, bộ phim đã 32 năm, ngót hơn nửa đời người. Vậy mà thỉnh thoảng xem lại, cảm xúc của tôi vẫn rất lạ lùng. Nhiều khi tôi tự hỏi sao ngày ấy mình đóng được như thế? Tôi nhận ra nghệ thuật thật tuyệt vời, bao nhiêu năm trôi qua vẫn tươi nguyên, cái máu nhiệt huyết của những ngày đóng Chí Phèo vẫn đầy ắp trong người tôi.

Sau Làng Vũ Đại ngày ấy, tôi còn đóng nhiều phim với nhiều loại nhân vật, từ chính diện đến phản diện như: Năm Hòa trong Biệt động Sài Gòn, tiểu đội trưởng Quang trong Không có đường chân trời, chàng cầu thủ bóng đá trong Phút 89, Trần Quân trong Kẻ giết người, vai phản diện trong Ngược dòng, vai gián điệp trong Mưa rơi trên thành phố,… Bước sang thập niên 90, thị trường phim ảnh trong nước đóng băng, không hãng phim nào dám đầu tư vì sợ không thâu hồi được vốn. Mê và nhớ nghề quá, tôi vét hết tiền dành dụm sản xuất và đạo diễn phim Người anh hùng râu quặp, rồi Kẻ cướp cô dâu, Chuyện tình của một ngôi sao, Con bạc cháu vàng. May sao các phim đều được khán giả trong Nam ngoài Bắc ủng hộ. Những bộ phim này đã nối duyên cho tôi bước sang con đường đạo diễn với loạt phim truyền hình cho Đài truyền hình Việt Nam, Vị tướng tình báo và hai bà vợ của hãng TFS và nhiều phim khác nữa.

Tuy nhiên, có lẽ vai Chí Phèo của tôi ấn tượng quá nên rất ít khán giả nhớ đến các bộ phim đó. Nhưng không vì vậy mà tôi thấy buồn. Tôi nghĩ đó là cái duyên, cái may khi có được một vai diễn tốt được nhiều người nhớ đến như vậy. Cuộc đời làm nghệ thuật, còn gì vui sướng hơn là vai diễn của mình vẫn sống trong lòng khán giả theo năm tháng.

4.Tôi thấy mình may mắn vì vợ tôi cũng say mê phim ảnh. Nếu không có sự ủng hộ của vợ thì tôi không làm được đâu. Còn chuyện tình cảm, với người làm nghệ thuật, bao giờ chẳng có cái quyến rũ của nó. Song lúc nào tôi cũng nhắc, mình sướng hơn vợ, được đi nhiều, biết nhiều thì mình càng phải sống tử tế hơn. Tôi với bà ấy lấy nhau từ lúc chưa có gì, đến khi có danh vọng mà mình nọ nọ kia kia thì thấy mình hèn, mình tệ lắm. Vợ chồng là cái duyên với nhau. Cuộc sống có nhiều điều đặc biệt lắm, con người ta thì vô thường, ai cũng có những khuyết điểm, những phút yếu lòng song quan trọng là biết nghĩ đến nhau, chăm sóc cho nhau.

3 năm nữa tôi 70 rồi. Thấy tôi thường xuyên bay ra bay vào Sài Gòn – Hà Nội làm phim, dăm bữa nửa tháng lại có người hỏi, khi nào tôi định “nghỉ hưu”? Tôi cười, trời còn cho khỏe, anh em còn thương, còn tin tưởng đến lúc nào thì làm tới lúc ấy. Không phải vì tôi mê kiếm tiền đâu, tại tôi yêu nghề và may mắn được nghề đáp lại. Mà, vậy không hay hơn là ngồi ru rú ở nhà, đắm chìm trong ánh hào quang đã tắt ngúm, lâu lâu nhếch mép cười khẩy, rồi tranh luận như phán phim này, diễn viên kia, đạo diễn nọ sao? Ở cái tuổi này, còn được gắn bó với nghề, được làm việc với nhiều người trẻ, còn hiểu, chứng kiến và góp chút gì đó cho đam mê mình ăm ắp đeo đuổi từ hồi trẻ, chẳng phải đủ đầy và hạnh phúc sao?

Hoàng Dung

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.