2 tuổi, bà không có tình thương của cha. 4 tuổi, mẹ bà tìm hạnh phúc mới. Đò xưa bẻ mái, thôi chèo.
Bà lớn lên hồn nhiên như cây lúa đồng, tự dưng mà trổ. Công danh cũng mày mò đi tìm. May mà, Tổ còn đãi, người còn thương.
Chuyện đời bà nhiều trúc trắc và buồn lắm, buồn như gió thổi rát mặt nhìn chiều vắng phía con đường đất đỏ, không có bàn chân quen…
1. Năm 2 tuổi, cha bỏ mẹ theo người đàn bà khác. Lớn lên một chút, mẹ kể lại, cha là kép độc Sáu Đỏ nổi danh. Ở cái tuổi còn ngơ ngác sự đời, nghe vậy, tôi chỉ thấy len lén chút tự hào. Chưa hề oán trách cha. Năm 4 tuổi, mẹ tái hôn với một người đàn ông làm ở Sở Ba Son. Đời nhiều cái trớ trêu, vừa có cha dượng tôi, vừa có luôn mẹ ghẻ…
Cha dượng có gia đình đã lâu nhưng không sinh được con, liền bàn với mẹ gởi tôi cho bà vợ cả nuôi. Vì theo ông, ở đó tôi được sống sung túc hơn mà giữa hai người đàn bà cũng có sự gắn kết. Phần ông, chạy đi chạy về giữa hai nơi. Mẹ tôi như mảnh sân sau màu mỡ, tất nhiên, ông ở với mẹ nhiều hơn. Và cơn thịnh nộ của dì ghẻ trút xuống đầu tôi cũng thường xuyên hơn.
Nhà dì ghẻ giàu, có người ăn kẻ ở. Tôi ở đó, hầu như không phải làm gì nhưng bà luôn tìm đủ mọi cách để hành hạ tôi. Bà cay nghiệt lắm, đánh mà không cho tôi khóc, bắt phải cười. Càng khóc thì càng đánh, nên phải cười. Cười cho đến khi nào ráo khô cả nước mắt, (hoặc giả, bà mệt rồi cũng nên) thì bà mới cho ăn, cho đi ngủ. Mỗi khi cha dượng về, bà bắt mặc đồ dài để che đi những vết bầm, có chỗ còn rướm máu tươi, thấm qua cả 2 lần áo. Tôi không dám hé răng gì với cha. Lúc đó, tôi còn nhỏ quá, còn sợ hãi quá. Lâu lâu mẹ cũng qua thăm, nhưng bà không cho ra gặp. Bà viện cớ tôi đi học này, học kia.
Từ trong nhà nhìn ra, tôi thấy mẹ. Mẹ đứng đó, gần lắm, mà tôi không dám gọi. Nước mắt chảy thành dòng, tôi cắn vào tay để khỏi nấc lên. Mẹ đứng đó, tưởng như, chỉ cần một hơi thở mạnh là mẹ sẽ nhận ra tôi. Tôi cứ lén nhìn, rồi khóc. Khóc ướt hết hai bàn tay thì mẹ chào dì ra về. Lúc nào cũng thế.
Tôi lên 8 tuổi đầu thì cha dượng nghe đâu bị đày ra Côn Đảo, rồi biền biệt luôn từ đó. Tôi được trả về cho mẹ. Hai người chị lớn lúc này đang theo đoàn hát Kim Thoa. Thấy tôi lanh lợi, chị định dắt về làm đào con. Mẹ không chịu, bởi câu “xướng ca vô loài” ngày ấy. Nhưng nghe chị hát, thích quá, tôi ưng theo. Mẹ vuốt tóc tôi, thở dài: “Dòng máu của cha bây…”. Từ đó, tôi rong ruổi đeo mang nghiệp hát. Tôi nổi lên từ đoàn Bích Thuận. Nhờ vai Điêu Thuyền trong vở Phụng Nghi Đình, ít nhiều tôi được người ta nhớ mặt.
Một sĩ quan trong quân đội Việt
Đêm đó, thủy lôi bắn phá trên sông ác liệt. Thuyền anh trúng đạn, chìm nghỉm trong màn nước tối đen, sâu thẳm. Đêm nào tôi cũng mơ thấy anh từ xa xa, tôi ôm con vừa chạy theo vừa gào khóc. Xác anh trôi dạt bụi bờ nào, hồn anh vương vít khúc sông nào, có lạnh không, có đói không, nhưng anh cứ im lặng, bước đi mải miết. Tôi tỉnh dậy trong cơn khóc ngặt của đứa con đầu lòng mới tròn 3 tháng tuổi. Tôi 19 tuổi, tóc vừa xanh đã trắng tang chồng.
2. Nỗi đau chưa hẳn nguôi ngoai nhưng mọi thứ buộc phải trở về với quỹ đạo của nó. Tôi lại son phấn xiêm y, môi cười mắt liếc, đêm đêm dưới ánh đèn sân khấu mua vui cho người đời. Cũng có kẻ si mê, người dang tay mong che chở, nhưng tôi sợ…
Đời nghệ sĩ mà, màn trời chiếu đất, nổi nênh như bông lục bình theo con nước, mấy ai biết hậu vận sẽ ra sao. Và khi bức màn nhung dần khép, tôi ôm lấy đứa con đang khát sữa bú tay mà cắn chặt môi kìm tiếng nấc. Chợt thấy tôi nhỏ lại, tôi của những ngày xưa, ngày mà cách mẹ có mấy bước chân chỉ thấy nghẹn đắng lén nhìn.
Những năm 1954, tinh thần dân tộc, ý chí đấu tranh bùng phát mạnh mẽ trong giới sân khấu cải lương. Nội dung tích tuồng thường hướng đến ý nguyện thống nhất hai miền Nam Bắc. Thời điểm ấy, đoàn Kim Thoa tái hợp, tôi được về làm đào chánh. Lúc này, các anh chị nghệ sĩ trí thức đang ấp ủ dựng vở Lấp sông Gianh, do soạn giả Kinh Luân viết. Tôi được chọn vào vai chánh – cô gái mang tên Thơ Đào. Vở Lấp sông Gianh kể về một mối tình ở thời Trịnh - Nguyễn phân tranh của Thơ Đào và Từ Vũ. Đất nước bị chia cắt, lấy ranh giới là sông Gianh khiến tình yêu đôi trẻ bị chia lìa, ngăn trở.
Đêm 19/2/1955, vở Lấp sông Gianh ra mắt tại rạp Nguyễn Văn Hảo, nay là rạp Công Nhân. Từ cánh gà nhìn ra, trống ngực tôi đập liên hồi vì khán giả đến coi đông nghẹt, toàn rạp không còn một chỗ trống. Phía bên kia, đạo diễn Duy Lân, chỉ đạo nghệ thuật cho đêm diễn, đang nở nụ cười mãn nguyện. Nhưng anh đâu ngờ rằng đây lại là đêm máu xương tang tóc…
Vở diễn tạo được sự xúc động mạnh mẽ, dưới khán phòng, khán giả đã ôm nhau trào nước mắt. Mà đỉnh điểm là đại cảnh lấp sông Gianh – màn cuối cùng của vở diễn. Hai mảnh bức địa đồ Việt
Bỗng nhiên, có tiếng lộc cộc khô khốc vọng tới, sân khấu tóe lửa rồi một tiếng nổ đinh tai vang lên. Tôi thất thần như người ngây dại. Phía dưới, khán giả chạy tán loạn. Tiếng gào thét ngày càng lớn dần lên: “Bà con ơi, lựu đạn”. Tôi bừng tỉnh, nhưng toàn thân tê cứng, nhói đau. Máu bắt đầu chảy khắp người tôi, máu nhuốm đỏ một khoảng sân khấu. Khói thuốc súng nồng nặc.
Tôi khóc ngất khi bên cạnh là mấy mạng người nằm bất động. Nhà báo trẻ Nguyễn Mai chết ngay tại chỗ. Bên kia, nghệ sĩ Ba Cương đang lịm dần, toàn thân chú, máu loang ướt đẫm, hai chân đã đứt lìa. 3 giờ khuya hôm ấy, chú tức tưởi ra đi. Hề Phiên bị thương nặng ở bụng, 10 ngày sau anh cũng không qua khỏi.
Đạo diễn Duy Lân bị mảnh lựu đạn cắt mất một chân, từ đó phải xa lìa sân khấu. Phần tôi được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Sài Gòn. Cho đến giờ, miểng lựu đạn vẫn còn ghim trong cơ thể tôi.
Tôi trở về hoảng loạn. Mỗi lần đứng trước bức màn nhung màu đỏ, khung cảnh đẫm máu ấy lại hiện về, vây lấy tâm trí tôi. Không sao thoát được cơn ám ảnh, tôi đành từ biệt sân khấu cải lương.
3. Tôi lui vào góc tối xin làm nghề lồng tiếng phim cho Hãng Mỹ Vân. Tôi đã từng tái giá, nhưng sau lại không sống với chồng. Như con chim trúng tên sợ cành cong, tôi không dám mưu cầu hạnh phúc nữa. Tôi chỉ biết làm việc cật lực để có đủ tiền nuôi 5 mặt con, lo lắng cho mẹ già và cưu mang luôn mấy đứa cháu - con của chị cả đang hoạt động cách mạng bên Phần Lan.
Cảnh nhà chật vật, bức bí đến ngộp thở. Tôi nhớ nghề, và tôi cần tiền. Nhưng tôi vẫn chưa thể trở lại sân khấu, bởi bọn mật thám đang theo dõi rất gắt gao. Bế tắc, tôi lại rơi vào cơn sợ hãi. Đêm đêm, những ác mộng đòn roi, mất mát, sụp đổ,… quay cuồng trong giấc ngủ chập chờn. Tôi thật sự không nhớ nổi mình đã vượt qua những ngày tháng đắng cay, tủi cực ấy như thế nào nữa.
Tôi trở lại sân khấu kịch, rồi đi đóng phim. Con kiến nào khi gặp nước lụt, lại chẳng miệt mài leo đến chỗ cao. Tôi cũng vậy, cứ mải miết chạy theo cuộc mưu sinh, đến khi nhìn lại, tuổi già đã sầm sập tới. Ngó quanh, ngó quất thấy mấy mặt con, đứa nào cũng nghèo xơ xác.
Như con tằm rút ruột nhả tơ, không nỡ để con cái thêm gánh nặng, tôi lại tất bật đóng phim, diễn kịch để tự lo cho cái thân già. Nhiều lúc diễn xong, lập cập thu dọn để về cho kịp với người ta, đến lúc bước ra đường mới ngẩn người: “Ờ, về đâu? Chỗ ở có đâu mà về…”. Già lắm rồi, nước mắt đâu có chảy ra thành dòng, chỉ ri rỉ rồi ứ nghẹn. Tủi phận lắm, mà đến khóc cũng không xong…
Người ta nói vẻ mặt tôi phúc hậu, lúc nào cũng rạng rỡ, chắc lòng có nhiều nỗi an nhiên. Tôi chỉ cười, chẳng lẽ lại kể hết những bể dâu đã trải. Mà chắc nhờ tổ nghiệp thương, cho cái mặt tươi vui để làm nghề. Rồi Viện Dưỡng lão nghệ sĩ được thành lập, tôi xin về tá túc. Nghệ sĩ đến khi đã về Viện Dưỡng lão, hầu hết đều thấm thía lắm cái sự bạc bẽo của kiếp xướng ca. Tôi thì đỡ hơn, vì còn được tà tà đi đóng phim, diễn kịch. Giờ, làm được bao nhiêu, tôi đều dành dụm lại để phòng khi đau yếu còn có cái để mà thuê người lo liệu cho.
Mỗi khi Sài Gòn trở gió, cái chân bị ghim miểng lựu đạn trở đau là biết năm hết Tết đến. Mùa về cuối năm, nghệ sĩ trong Viện Dưỡng lão thường quây quần chuyện trò, rồi thể nào cũng nhắc nhớ những ngày xưa cũ. Vui nhiều, hạnh phúc cũng nhiều, mà hết chuyện rồi thì ai cũng buồn hiu hắt.
Chắc lại xót xa khi bất giác nghĩ về những hào quang nay đã thành quá vãng. 11 năm nay rồi, tôi ăn Tết với anh em trong Viện Dưỡng lão. Có chút đỉnh tiền, chia nhỏ ra bỏ phong bao đỏ, rồi hết Tết lại tháo ra dùng. Tại là… đâu có biết lì xì cho ai. Con cháu cơ cực quá, rồi tứ tán khắp nơi, biết phải làm sao bây giờ. Thôi, Tết nhất đến nơi, không nói chuyện buồn nữa. Cũng tại già rồi, hay buồn, hay tủi