Chuyện của diễn viên Lý Hùng

Có thể, bây giờ làng giải trí đã khác so với cái thời diễn viên Lý Hùng còn làm mưa làm gió trong giới điện ảnh. Ngày tôi còn bé ở quê, mỗi khi Tết về, nhà nào cũng cố kiếm cho được một tờ lịch có hình của Lý Hùng đang tạo dáng bên xe moto, người đẹp… hay đơn giản chỉ có mỗi Lý Hùng.

Lý Hùng là một đẳng cấp rất khó tìm ra thêm một lần nữa. Anh nổi tiếng lâu, lâu đến mức cho đến lúc này anh… vẫn cứ nổi tiếng. Những bạn diễn cùng thời với Lý Hùng, còn sót mấy người đâu. Mà có sót, thì cũng chỉ phảng phất hào quang ngày cũ.

Và khi Lý Hùng trải lòng về những khúc ngoặt của đời mình, thì chính là lúc anh có thời gian để làm sống lại hồi ức về một miền tươi đẹp.

1. Tôi không còn nhớ rõ những ngọt bùi thời thơ ấu. Mỗi khi mường tượng lại, độc nhất, chỉ có tiếng đồng vọng từ võ đường thuở xa xưa dội về. Cha tôi là một võ sư có tiếng. Tiếng tăm của ông buộc tôi – đứa con trai út trong gia đình phải đổ mồ hôi trên sàn tập khi chỉ vừa thôi để chỏm.

Tôi còn nhớ lần đầu tiên ba dắt tôi đến võ đường, bàn tay tôi nhỏ xíu nằm gọn trong lòng tay ba to dày, ba buông tay tôi ra và nói: “Khoảng sân này là một phần cuộc đời của ba và ba tin nó cũng trở thành máu thịt của con”. Lời ba nói, nhớ nhớ quên quên. Nhưng cái cảm giác vừa run sợ, vừa phấn khích lại vừa nôn nao như thể, kể từ đây vận mệnh của mình sẽ gắn chặt với nơi này luôn khắc sâu trong tôi suốt những năm tháng tuổi thơ và mãi cho đến bây giờ. 6 tuổi, tôi thấy mình “lớn lên” khá sớm.

Ba tôi trở thành diễn viên nổi tiếng, đi nước ngoài đóng phim nhưng cảnh nhà vẫn nghèo hiu hắt. Dậy từ thật sớm, tôi cùng anh trai Lý Sơn dẫn nước tắm cho bầy heo vốn là tài sản quý nhất của cả gia đình đến 6 người con. Mẹ nấu cơm ăn sáng, xong đâu đấy, mấy anh em dắt díu nhau đi học. Nhà có một chiếc xe đạp thôi, nên ai đi học xa thì được cưỡi, trường tôi gần nên cứ thế chạy bộ đến lớp.

Chuyện của diễn viên Lý Hùng ảnh 1

Học về, cơm nước xong xuôi, nghỉ trưa một tí là phải lao vào võ đường tập luyện với ba. Luyện suốt từ 3 giờ chiều đến 7 giờ tối, rồi về lo học bài. Nửa đêm, tôi và anh trai Lý Sơn thay phiên nhau chở mẹ trên chiếc xe đạp rệu rã, len lỏi từng ngóc ngách của khu Chợ Lớn để bỏ mối bút bi. Tuổi thơ nhọc nhằn cứ thế dần trôi.

2. Rồi một ngày ba biểu: “Hùng thay bộ nào coi được được, rồi ba dắt lên phim trường chơi”. Tôi mừng như con sẻ non được mẹ mớm mồi, hai chân líu ríu bước bên ba mà mấy lần vấp té. Không hiểu sao tôi vui đến vậy, như tiềm thức mách bảo, rồi đây, nơi này mới chính thực là chốn cháy bỏng đam mê của cả đời mình, (hình như ý nghĩ của tôi hơi... sến).

Phim trường đang quay bộ phim Phượng của đạo diễn Lê Văn Quyên. Ông thấy tôi mặt mày kháu khỉnh liền vui miệng biểu ba cho tôi diễn một phân cảnh rất nhỏ. Đó là vai thằng bé bán báo, cầm ná thun, bắn viên đá vào mông một tên lính ngụy đang trấn áp sinh viên yêu nước. Tưởng gì chứ bắn ná thun là “nghề của chàng”.

Đạo diễn vừa dứt hiệu lệnh, tôi làm vẻ mặt vừa căm ghét vừa lém lỉnh, căng ná, bắn cái chóc, trúng phóc vào mông diễn viên Nguyễn Cung – vai tên lính ngụy. Đang còn chưa kịp mừng vì tài thiện xạ, đã thấy chú Nguyễn Cung đỏ mặt tía tai nhào đến tôi, rượt tôi chạy lòng vòng. Ra là tại tôi làm thiệt quá, khiến chú đau, chú giận, tới lúc đó mới biết mình gây nên họa. May mà đạo diễn Lê Văn Quyên đến hòa giải, sau, biết tôi là con của Lý Huỳnh, nên chú Nguyễn Cung cũng vui vẻ cho qua.

Nhờ cái phân cảnh nhỏ ấy, mà tôi được nhắm vào vai chính Dũng lì – thằng bé bụi đời trong phim Đàn chim và cơn bão của đạo diễn Cao Thụy. Nghe đóng phim thì thấy vui vui, chứ tôi đâu biết nghiệp diễn cũng cơ cực không kém gì luyện võ. Phim quay tại Đồng Nai, suốt 3 tháng trời tôi phải ăn ngủ, sinh hoạt trong trại giáo dưỡng trẻ bụi đời ở Long Thành. Một thằng nhóc 12 tuổi, xa gia đình và phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn chưa từng gặp, tôi không biết lúc ấy mình đã vượt qua bằng cách nào.

Phim được nhiều người đón nhận, thấy tôi có năng khiếu, gia đình hướng tôi theo nghiệp diễn. Tôi thi vào Trường Đại học Điện ảnh Việt Nam tại TP. HCM và đậu vào ngành diễn viên khóa 1. Con đường sự nghiệp của tôi có vẻ như rất suôn sẻ khi chỉ mới học năm thứ nhất, tôi đã trở nên nổi tiếng với vai chính Phạm Công trong phim Phạm Công – Cúc Hoa.

Sau đó là một loạt phim ăn khách như Người không mang họ, Truy nã tội phạm quốc tế, Thăng Long đệ nhất kiếm, v.v. Vì tôi toàn được đóng vai chính diện, dũng mãnh, hào hoa nên được các em học trò thời bấy giờ gọi là Bạch mã hoàng tử. Thời trẻ trai mà, được khen ai không thích. Nhưng nói thiệt, ra đường nghe người ta gọi vậy, vui thì cũng vui vui nhưng ngượng ngùng lại nhiều gấp bội.

Báo chí ưu ái gọi tôi là “bảo chứng phòng vé”, hình ảnh tôi cặp cùng các diễn viên nữ cũng đình đám không kém như Diễm Hương, Lý Hương, Y Phụng, Việt Trinh... phổ biến đến từng nhà dân. Tôi thấy mình đang ở đỉnh cao của danh vọng. Nhưng rồi...

Thập niên 90, các nhà làm phim nhận thấy điện ảnh như món mồi béo bở nên nhảy vào đầu tư rầm rộ. Những bộ phim được làm chóng vánh, hậu kì dễ dãi, mô típ sáo mòn liên tục được ra rạp khiến khán giả ngày càng chán ngán. Dòng phim vẫn được gọi là “mì ăn liền” tuột dốc không phanh. Như một nghịch cảnh, tôi đành ngậm ngùi rời xa sự nghiệp diễn xuất khi trong mình độ rực lửa đam mê đang bùng cháy hơn bao giờ hết.

3. Tôi buồn chán, trống rỗng, hụt hẫng. Như người đang vô tư đuổi hoa, bắt bướm bỗng hụt chân rớt xuống hố sâu. Tôi lao đầu vào luyện tập võ thuật. Tôi đắm chìm vào những đòn quyền, thế đá như để quên đi ánh hào quang quanh mình bỗng nhiên vụt tắt. Tôi tập như để trả thù bản thân, nhiều khi ngã vật ra vì kiệt lực.

Thấy tôi đang sai đường, một lần nữa, ba lại bước đến bên tôi. Trong võ đường vắng lặng, ba ngồi trang nghiêm, bệ vệ như một người thầy, hỏi: “Còn đam mê nghệ thuật không con? Còn muốn được vui buồn, khóc cười với khán giả không con?”. Mồ hôi rớt xuống miệng tôi mặn đắng, tôi khép mắt gật đầu. Ba cười, cười như kiểu: “Vậy là thằng này còn xài được”.

Có vậy thôi mà tôi vực mình dậy rồi đi học hát, nghe có ngớ ngẩn quá không. Học ngót nghét gần 2 năm, tôi ra nghề rồi đi diễn. Thuở ấy, nghe tôi đi hát, người ta gièm pha nhiều lắm. Nhưng tôi mỉm cười bước qua tất cả. Bởi, tôi không hát để chinh phục thứ danh vọng phù hoa.

Tôi hát, vì khán giả còn ái mộ một Lý Hùng đã lui vào quá vãng. Tôi hát, vì những đêm vùng núi Trà My, Quảng Nam mưa trắng xóa trời, khán giả đội tấm nylon rách bươm chờ Lý Hùng xuất hiện. Tôi hát cho cụ già yếu chân ở Trà Vinh, không thể đi xem được tôi diễn, đành nhờ con cháu lấy ghế chặn đường để mời tôi chén cháo, lót dạ buổi đêm khuya. Tôi hát cho em gái Sơn La, biết Lý Hùng kẹt giữa rừng liền băng núi đồi, gọi bà con đến giúp...

Bao nhiêu thâm tình của khán giả đã giúp tôi cháy hết mình trên sân khấu âm nhạc ròng rã 8 năm trời. Nhưng cứ mỗi đêm, giữa giấc ngủ chưa nồng, những Phạm Công chính trực, Trương Sỏi oai hùng, cậu bé Dũng lì bất hạnh,... cứ lần lượt chập chờn, xoay vòng trong những giấc mơ tôi. Tôi nhớ phim trường, nhớ vai diễn, nhớ một cái gì đó rất khó gọi tên...

4. Nói như vậy, không phải là tôi không có phim để diễn. Nhiều đạo điễn vẫn ưu ái cho gọi tôi, nhưng như có một bức tường vô hình khiến tôi không dám bước qua cái ranh giới mong manh đó để trở về với nghiệp diễn, dù là xao xác nhớ, dù là âm ỉ khát khao. Giống như tôi đang hài lòng với cuộc sống hiện tại, và không còn sức để đổi thay. Nhưng thật sự không gì là quá muộn...

Lần ấy, tôi đang lưu diễn tại Pleiku. Đêm phố núi mờ sương, tôi tràn trề hưng phấn sau một đêm được khán giả tán thưởng cuồng nhiệt. Đang lui cui dọn đồ về khách sạn thì có số điện thoại lạ gọi đến, đó là đạo diễn Cảnh Đôn. Anh hồ hởi bảo tôi: “Hùng ơi, có vai này hay lắm”. Như một phản xạ lặp đi, lặp lại trong 8 năm ròng đi hát, tôi trả lời như một cái máy: “Anh Đôn ơi, em nghỉ một thời gian”.

Vị đạo điễn vẫn tự tin chắc nịch trong từng câu nói: “Vậy để mình gửi email kịch bản, đọc xong rồi tính”. Kịch bản đúng là lời chiêu dụ đầy thuyết phục. Tôi đắm chìm, tư tưởng tự hóa thân vào nhân vật Đại úy Nguyễn Trực mà tôi được giao trong kịch bản phim Đô la trắng. Nhìn lại mình, tôi giờ đã cận kề cái ngưỡng tứ tuần, tôi có bụng và nặng đến 82 kí. Nguyễn Trực dũng mãnh hào hoa, Nguyễn Trực trẻ trung phong nhã. Không. Tôi không thể phá hủy hình ảnh đó được. Thức tròn một đêm tôi gật đầu với anh Cảnh Đôn.

Còn chưa đầy 1 tháng nữa phim bấm máy, tôi lao đầu vào luyện tập ép cân. Những hôm tôi mồ hôi mướt người, môi tái nhợt, rệu rã trở về nhà bỗng thấy mẹ len lén chấm nước mắt vì thương con, ba chậm rãi hớp ngụm nước trà mà đôi mày thoáng cau lại. Tôi biết ba mẹ đang vô cùng lo lắng cho mình. Bản thân tôi cũng vậy, tôi lo lắng vì đây là bộ phim đầu tiên tôi trở lại với công chúng sau 8 năm vắng bóng. Tôi hồi hộp vì một nỗi khát khao mơ hồ như cái bóng luôn quẩn quanh tôi trong suốt 8 năm qua. Tôi sút liền 7 cân trong vòng hơn nửa tháng. Đến phim trường, tôi tiếp tục giảm thêm vài kí nữa để có một ngoại hình cân xứng với nhân vật trên phim.

Sự trở lại của tôi được khán giả đón nhận, tôi vỡ òa hạnh phúc. Nếp nhăn giãn ra trên trán ba, nụ cười trở về trên khuôn mặt mẹ. Điều này, dân trong nghề hay gọi là “nghiệp đãi”. Mà có lẽ, đời tôi nghiệp đãi là thật

Hồ Ngọc Giàu

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.