Chưa có bằng chứng khoa học về thông tin hai em bé đầu tiên trên thế giới ra đời từ chỉnh sửa gen

Tuyên bố của một nhà khoa học vào ngày 27-11 về việc chỉnh sửa gen cho hai em bé song sinh đầu tiên trên thế giới lập tức gây nhiều tranh cãi về thành tựu và đạo đức nghiên cứu khoa học, dù chưa có bằng chứng cho thấy có sự tồn tại hai đứa trẻ. Trước sự quan tâm của bạn đọc về sự kiện này, PV Báo CAND đã có cuộc trao đổi với GS.TS. Tạ Thành Văn- Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Giám đốc Trung tâm Gen –Protein, Uỷ viên Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y Hà Nội.

+ Thưa ông, là nhà khoa học chuyên sâu về gen, từng làm việc tại các phòng thí nghiệm lớn ở Mỹ và Nhật, cũng là học trò xuất sắc của GS. Tasuku Honjo - người vừa đoạt giải Nobel 2018, ông nghĩ sao trước thông tin hai em bé được chỉnh sửa gen kháng HIV?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Là người làm khoa học, trước những sự kiện mới chúng tôi luôn bình tĩnh để suy xét và chỉ tin khi có những bằng chứng khoa học, tức là thông tin được đưa ra từ những công bố khoa học của các tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới. Mà những bằng chứng này thì đến nay tôi chưa được tiếp cận. Tuy nhiên, theo logic của một người làm trong lĩnh vực này nhiều năm, tôi thấy có nhiều điều để hoài nghi…

Gần chục năm trước trên thế giới từng rộ lên thông tin một em bé nhân bản ra đời do một nhóm nhà khoa học thực hiện, nhưng đến giờ thì không có thông tin gì về trường hợp này.

 Sau khi cừu Dolly nhân bản ra đời ở Anh, một số nhà khoa học quyết định thử nghiệm trên người, nhưng đã gặp phải sự phản ứng dữ dội từ các nhà khoa học, nhà xã hội học và chính phủ nhiều nước. Mỹ quyết định ngân sách không được tài trợ cho thí nghiệm nhân bản trên người. 

Một số nhóm ở một số nước tuyên bố nhân bản thành công trên người nhưng đến nay vẫn chưa có một minh chứng cụ thể nào được đưa ra. Trường hợp này tôi thấy cũng tương tự. Họ nói sửa gen thành công, nhưng chưa đưa ra được các bằng chứng cũng như cơ sở khoa học rõ ràng. Với kinh nghiệm, hiểu biết của một người làm khoa học về gen nhiều năm, tôi cho rằng thông tin đó không phải là thật.

GS.TS. Tạ Thành Văn
GS.TS. Tạ Thành Văn

+ Cơ sở khiến ông hoài nghi về tuyên bố trên là gì, thưa ông?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Công nghệ sửa gen không phải bây giờ mới có. Năm 2000, một nhóm nhà khoa học ở phòng thí nghiệm nơi tôi làm việc bên Mỹ cũng đã chỉnh sửa, cắt, nối các đoạn gen trong phòng thí nghiệm bằng công nghệ Rybozyme, một công nghệ mới và khá đặc hiệu ngày đó. 

Năm 2006 nhóm nhà khoa học ở Trung tâm Gen-Protein của Trường Đại học Y Hà Nội đã từng phân lập được gen của bệnh ưa chảy máu (Hemophillia) và đưa vào hệ thống vector của virus nhằm tổng hợp yếu tố VIII tái tổ hợp và thử nghiệm liệu pháp điều trị gen cho bệnh này ở mô hình chuột thực nghiệm. Nhưng sau đó do không có kinh phí nên phải dừng lại ở mức độ tổng hợp yếu tố VIII tái tổ hợp ở quy mô trên phòng thí nghiệm và chúng tôi không thể tiếp tục thử nghiệm liệu pháp điều trị gen.

Gần đây các nhà khoa học tìm ra phương pháp mới để chỉnh sửa gen, đặc hiệu hơn gọi là CRISPR và hy vọng có thể sửa gen để chữa bệnh lý của gen. Nhưng với những hiểu biết mà tôi có được, thì mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ song cho đến nay đó vẫn chỉ là giấc mơ, vì có rất nhiều trở ngại về mặt khoa học mà các nhà khoa học phải vượt qua.

Phương pháp CRISPR CAS9 về lý thuyết rất hay nhưng có nhiều khó khăn khi triển khai. Điều này hơn mười năm trước tôi đã viết trong một số bài tổng quan công bố ở trong nước. Liệu pháp điều trị gen thường ưu tiên nghiên cứu áp dụng đối với bệnh lý đơn gen còn đối với các bệnh lý đa gen thì việc áp dụng trở nên phức tạp gấp nhiều lần.

Vấn đề mấu chốt của phương pháp này là phải tìm được chính xác một gen lỗi trong cơ thể để thay thế. Mà, cơ thể người có khoảng 25 nghìn gen. Nếu nối các gen trong 1 tế bào lại với nhau thì chiều dài cộng lại sẽ khoảng 2m. Trong tế bào, các gen tồn tại ở dạng cuộn, xoắn rất phức tạp, thì việc định vị được vị trí của một gen lỗi, rồi lại cắt được đúng đoạn gen hỏng, trong khi gen nằm trong nhân, nhân nằm trong tế bào và không nhìn thấy, là việc vô cùng khó, chứ chưa nói đến lại còn thay đúng đoạn đã cắt bằng đoạn gen lành tương ứng. Rồi khi cài phải làm sao gen đó hoạt động được và hòa hợp với những gen khác, tránh được hệ thống kiểm soát tinh vi của tế bào để không bị phát hiện, bất hoạt hay đào thải qua các chu kỳ phân chia của tế bào là những trở ngại đặc biệt quan trọng đối với các nhà khoa học. Chỉ cần cắt nhầm gen hay thêm vào đoạn gen không đúng vị trí thì sẽ tạo ra đột biến và gây nên bệnh khác, rất nguy hiểm…

Vả lại, chỉnh sửa bệnh đơn gen đã khó, thì những bệnh liên quan đến hệ thống miễn dịch thường do tổ hợp của nhiều gen thì càng khó khăn khăn hơn. Vì thế tôi cho rằng công bố của nhóm  nhà khoa học Trung Quốc cần phải xem xét lại.

+ Nhưng nếu tuyên bố là thật, thì việc sửa gen có được coi là thành tựu của y học không và nó đặt ra những thách thức gì cho nhân loại, thưa ông?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Nếu việc chỉnh sửa gen như tuyên bố là sự thật, thì đây là bước tiến vĩ đại của loài người, hơn cả việc cừu Dolly nhân bản ra đời.

Trước một vấn đề mới, chúng ta cần cân nhắc mọi khía cạnh tác động của nó như vấn đề đạo đức, vấn đề khoa học và xã hội và quan trọng hơn cả là hiệu quả đối với con người. Vì ngành khoa học nào, của quốc gia nào thì đích cuối cùng vẫn là để phục vụ con người. Nếu chúng ta cấm hoàn toàn thì không nên vì có thể điều đó sẽ làm cản trở sự phát triển của khoa học. 

Trong lịch sử phát triển của nền y học loài người, việc mổ xác tử thi đã từng bị cấm và điều này làm kìm hãm khoa học y học phát triển thời đó. Việc sửa chữa gen người, can thiệp sâu vào quá trình tự nhiên vốn có là vấn đề chúng ta cần thận trọng. Cấm hoàn toàn cũng không nên, nhưng giới hạn can thiệp đến mức độ nào và khi nào cho phép thử nghiệm trên người, áp dụng ở các bệnh nào thì phải cân nhắc, thận trọng…

GS.TS. Tạ Thành Văn trao đổi với đồng nghiệp tại Trung tâm nghiên cứu Gen -Protein
GS.TS. Tạ Thành Văn trao đổi với đồng nghiệp tại Trung tâm nghiên cứu Gen -Protein

+ Còn về mặt đạo đức trong nghiên cứu khoa học, thưa ông?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Thế giới phản đối việc này vì nó vi phạm đạo đức nghiên cứu y học khi thực hiện trên tế bào phôi. Phương pháp CRISPR CAS9 đặc hiệu nhưng không phải là tuyệt đối. Tôi cũng lưu ý rằng, việc tiến hành thí nghiệm trên động vật cũng bị một số tổ chức và quốc gia phản đối. Do vậy, khi triển khai trên người, chúng ta phải đặc biệt lưu ý về khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu y sinh.

Nếu thí nghiệm trên tế bào xô ma (somatic cell), thì có hỏng cũng chỉ một chỗ. Còn trên phôi, thì đó là một cơ thể sống, nếu dùng biện pháp kỹ thuật để sửa gen thì nguy cơ sinh ra một cá thể bị đột biến gen sẽ rất cao…Việc tạo ra cừu Dolly, chỉ bằng một kỹ thuật chuyển nhân từ tế bào này sang tế bào kia mà còn gây thương tổn, dẫn đến đa phần những cá thể tạo ra bị quái thai, thì việc can thiệp trực tiếp vào gen như việc cắt –thay gen ở phôi thì yếu tố nguy cơ sẽ cao gấp nhiều lần.

+Chỉnh sửa gen để chữa bệnh và Trung tâm gen –Protein đã có những kết quả nghiên cứu gen được khẳng định, tại sao lại không tiếp tục, thưa ông?

GS.TS. Tạ Thành Văn: Tôi luôn nhớ lời dạy của GS. Tasuko Honjo là làm khoa học thì phải xem nhu cầu thực tế trong nước cần gì để nghiên cứu. Vì thế, chúng tôi đi sâu nghiên cứu các bệnh di truyền, chúng tôi đi theo hướng xây dựng bản đồ đột biến gen ở người Việt Nam nhằm giúp cho việc chẩn đoán, phát hiện sớm, quản lý người mang gen bệnh để ứng dụng trong tư vấn tiền hôn nhân. Cao hơn nữa, chúng tôi triển khai kỹ thuật chẩn đoán tiền làm tổ, bằng việc chủ động sàng lọc phôi để chọn phôi lành cấy vào tử cung người mẹ, giúp cho các cặp vợ chồng  mang gen bệnh sinh được những đứa con khỏe mạnh. Đây là kỹ thuật cao song đơn giản hơn việc chỉnh sửa gen mà hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện ở Việt Nam. 

Cách đây 2 năm, Trung tâm cũng thành công trong việc sửa gen để chữa bệnh nhược cơ Duchenne trên mô hình tế bào. Chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu về liệu pháp tế bào miễn dịch và chữa bệnh tự kỷ, Alzhemer trên ruồi giấm. 2 công trình khoa học của Trung tâm là “Kết quả ban đầu của liệu pháp tế bào miễn dịch trị liệu” và “Cơ chế tác dụng của chất chiết cây chè đắng đối với bệnh Alzheimer sử dụng mô hình ruồi giấm chuyển gen” vừa được báo cáo tại hội nghị khoa học quốc tế ở Nhật Bản vào đầu tháng 11-2018, đã được đánh giá cao.

Trung tâm có đội ngũ nhà khoa học được đào tạo bài bản ở nước ngoài, cơ sở vật chất tạm ổn. Tuy nhiên, để Trung tâm phát huy được thế mạnh xứng tầm, cần có chính sách hỗ trợ các nhóm nghiên cứu mạnh, đầu tư trọng tâm trọng điểm để thực thi các nhiệm vụ của ngành và quốc gia.

+ Cám ơn ông đã chia sẻ!

Thanh Hằng (thực hiện)

Các tin khác

Lần đầu tiên đặt bóng vào khí quản cứu thai nhi trong bụng mẹ

Lần đầu tiên đặt bóng vào khí quản cứu thai nhi trong bụng mẹ

Các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã nội soi buồng ối đặt bóng gây bít khí quản thai nhi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh cho bào thai còn đang trong bụng mẹ (kỹ thuật cao FETO). Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam triển khai kỹ thuật hiện đại này cho trường hợp mắc bệnh lý bẩm sinh vô cùng phức tạp.

Gia tăng ung thư tế bào hắc tố, cảnh giác với vết đen "vô hại" dưới bàn chân

Gia tăng ung thư tế bào hắc tố, cảnh giác với vết đen "vô hại" dưới bàn chân

Nhiều người khi thấy một nốt ruồi mới mọc, một vết đen hay mảng da sẫm màu dưới lòng bàn chân thường "tặc" lưỡi cho qua vì nghĩ chỉ là vết tụ máu do va đập hoặc nấm kẽ chân. Nhưng đây là vị trí "ưa thích" của ung thư tế bào hắc tố – loại ung thư da ác tính và có tỷ lệ tử vong cao nhất.

Vì sao người trẻ phải can thiệp tim mạch ngày càng nhiều?

Vì sao người trẻ phải can thiệp tim mạch ngày càng nhiều?

Theo Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), tỷ lệ người dưới 50 tuổi cần can thiệp tim mạch chiếm khoảng 30%, dưới 40 tuổi phải can thiệp tim mạch chiếm 15–20%; thậm chí có những trường hợp dưới 20 hay 30 tuổi đã bị nhồi máu cơ tim.

Xu hướng kết hôn muộn và hệ luỵ chất lượng dân số

Xu hướng kết hôn muộn và hệ luỵ chất lượng dân số

Kết hôn muộn sẽ dẫn đến sinh con muộn, sinh ít con, thậm chí không sinh con làm cho mức sinh giảm thấp. Nếu mức sinh tiếp tục giảm, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với những hệ lụy như thiếu hụt lực lượng lao động.

Phẫu thuật cứu ngư dân bị cáp tời trên thuyền cuốn nát chân

Phẫu thuật cứu ngư dân bị cáp tời trên thuyền cuốn nát chân

Sau 3 ngày 2 đêm lênh đênh trên biển với vết thương nặng ở chân phải do bị cáp tời cuốn, nam ngư dân được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) trong tình trạng gãy hở, xương gãy phức tạp, nhiều dị vật, mô mềm tổn thương nặng, có dấu hiệu nhiễm trùng...

Các y bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn tham dự lễ tri ân nghĩa cử cao đẹp hiến tạng của nữ nhân viên y tế B.H.A.

Nữ nhân viên y tế hiến tạng cứu sống 3 người

Một nữ nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội) không may mắc bệnh nặng, dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng chị không qua khỏi. Gia đình đã đồng ý hiến tạng của chị để cứu sống 3 người bệnh nặng.

Bảo vệ lứa tuổi vị thành niên trước nguy cơ làm mẹ sớm

Bảo vệ lứa tuổi vị thành niên trước nguy cơ làm mẹ sớm

Tình trạng mang thai và sinh con ở tuổi chưa thành niên tại Việt Nam còn cao tại một số khu vực, nhất là Tây Nguyên và Trung du, miền núi phía Bắc. Tảo hôn và sinh con sớm (15-19 tuổi) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao gấp 3 lần so với toàn quốc. 

Kịp thời cứu 5 ngư dân gặp nạn trên biển

Kịp thời cứu 5 ngư dân gặp nạn trên biển

Ngày 23/9, tại Trạm Kiểm soát Biên phòng Trần Đề thuộc Đồn Biên phòng Trung Bình - Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP Cần Thơ tiếp nhận 5 ngư dân gặp nạn trên biển được một tàu cá phát hiện, cứu vớt và đưa vào bờ bàn giao cho lực lượng chức năng.

TP Hồ Chí Minh: Khám sức khỏe toàn dân vượt cột mốc 5 triệu người

TP Hồ Chí Minh: Khám sức khỏe toàn dân vượt cột mốc 5 triệu người

Tính đến 9h ngày 21/9, TP Hồ Chí Minh đã ghi nhận 5.018.955 người được khám sức khỏe, khám sàng lọc, chính thức vượt cột mốc 5 triệu người. Song song với tiếp tục mở rộng độ bao phủ, chương trình đang chuyển sang một yêu cầu quan trọng hơn: bảo đảm khám thực chất, nâng cao chất lượng chuyên môn, hoàn thiện kết quả trên Hồ sơ sức khỏe điện tử và làm sạch dữ liệu, bảo đảm số liệu trên hệ thống phản ánh đúng số người thực tế đã được khám.