Truyền nhân của tiếng đàn tỳ bà cổ
Cụ Châu Đình Khóa đang sống những năm tháng cuối đời ở Hà Nội cùng con gái. Trên giường ngủ của cụ luôn có một cây đàn Tỳ bà, do NSƯT Trần Ngọc Bích - nguyên Phó đoàn Dân ca Bình Trị Thiên của Đài Tiếng nói Việt Nam trao tặng từ năm 1990 khi hai người bạn cũ gặp lại nhau tại Hà Nội.
Trong ký ức chợt nhớ chợt quên của cụ chỉ có tiếng đàn và câu chuyện về người thầy đã truyền cho cụ tiếng đàn thần kỳ ấy. Nhắc đến thầy, cụ chỉ rưng rưng một chữ "buồn".
Trong những ba động của lịch sử, thầy trò họ đã gặp nhau ở mảnh đất Phú Thọ, An Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình.
Cụ Khóa mồ côi mẹ từ lúc lên bảy, phải đi ở đợ, cuộc sống bôn ba, nay đây mai đó. 15-16 tuổi, cụ lang bạt vào Huế, Phan Rang - Tháp Chàm làm cu li đường sắt, kiếm kế sinh nhai. Nhưng từ thơ bé, tâm hồn cụ đã thấm những điệu hò khoan Lệ Thủy, hò mái nhì... Sau nhiều năm bôn ba, cụ trở về Lệ Thủy khi đã gần đến tuổi 30. Tình cờ gặp ông Nguyễn Quang Tồn là một Giám thị trường Quốc học Huế, do tham gia phong trào chống Pháp nên bị điều ra Lệ Thủy dạy tiểu học.
Ông Trợ Tồn chơi giỏi 5 nhạc cụ dân tộc như đàn tỳ bà, đàn nguyệt và đàn thập lục... nức tiếng khắp vùng bởi những ngón tay chơi đàn điêu luyện. Cuộc đời nổi trôi, lang bạt kỳ hồ, ông Nguyễn Quang Tồn đã tìm được tri âm - Châu Đình Khóa, người đã được thầy truyền lại phương pháp chơi các bản đàn điệu ca Huế theo lối đánh tài tử mà ông Tồn đã tự nghiên cứu và soạn riêng cho cây đàn tỳ bà Huế.
Đúng là một mối nhân duyên kỳ ngộ, cụ Khóa - cháu nội của quan Thượng thư Chu Đình Kế (con cháu phải đổi thành họ Châu sau khi ông vào làm quan trong triều) đã may mắn khi gặp được tri âm - thầy giáo Nguyễn Quang Tồn. Ngày đi làm ruộng, tối về anh Khóa chăm chỉ học đàn với thầy. Bốn năm miệt mài, thầy Tồn rất vui vì mình đã tìm được một truyền nhân.
Rồi chiến tranh, loạn lạc, thầy trò mỗi người một ngả. Châu Đình Khóa theo cách mạng, dùng ca dao hò Lệ Thủy đi tuyên truyền cho cách mạng Việt Minh những năm 1936-1939. Năm 1940, Mặt trận Việt Minh gặp khó khăn, cụ Khóa phải sang Lào. Ông Trợ Tồn bị điều ra dạy học và ốm chết ở Thanh Hóa.
Trước khi mất, Trợ Tồn trăng trối lại với vợ duy nhất một điều: Trong những người bạn của ông, chỉ có chú Khóa là người đã chơi được thuần thục những ngón đàn do ông soạn nhưng chú Khóa quá nghèo không có tiền mua đàn. Ông muốn trao tặng lại cây đàn cổ của ông cho chú Khóa. Năm đó, Trợ Tồn mới 38 tuổi. Còn Châu Đình Khóa 36.
Sau khi trở về lại quê nhà, nhận được lá thư của vợ thầy Trợ Tồn nhắn vào Huế để nhận đàn quý do thầy để lại cho mình, cụ Khóa vô cùng cảm động, tiếc thương và biết ơn người thầy tài hoa, bạc mệnh. Cây đàn đã được mang theo lên rừng trong suốt thời gian cụ làm giao liên ở chiến khu Lệ Thủy, Quảng Bình. Đó là cây đàn tỳ bà cổ, được gia đình quan ngự sử Lưu Đình Xướng tặng cho Trợ Tồn. Cây đàn, một lần nữa lại tìm gặp được tri âm.
Tiếng đàn vắng bóng tri âm
Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, cây đàn ít được sử dụng đến, mà nó được cất giữ trong hang. Nhưng nhiều người khi vào hang tránh máy bay ném bom đã mặc nhiên lật mặt sau của đàn lấy làm thớt để thái thuốc lá cuộn. Nhìn mặt sau của đàn bị xước, tiếng đàn cũng bị hỏng đi nhiều, cụ vô cùng đau xót. Từ lần đó cây đàn không bao giờ rời cụ. Và khi hòa bình lập lại, trong Hội diễn Văn nghệ toàn quốc lần đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Hà Nội năm 1956, cây đàn tỳ bà của thầy Tồn đã được cùng cụ lên sân khấu.
Rồi cụ Khóa làm trưởng đoàn văn công nhân dân Quảng Bình. Cụ đã cùng anh chị em diễn viên nhạc công mang lời ca tiếng hát phục vụ kháng chiến, nhân dân và chiến sỹ. Để thích hợp với không khí thời chiến, động viên tinh thần chiến đấu, sản xuất các làn điệu dân ca cổ cũng như âm nhạc cổ truyền thống đã được thay thế nhiều hơn bằng tân nhạc. Do vậy mà cây đàn tỳ bà ít có dịp được đưa lên sân khấu mà thay vào là cây đàn nguyệt.
Nhưng cụ Khóa vẫn luôn đau đáu với cây đàn tỳ bà và ý thức giữ gìn âm nhạc truyền thống của quê hương. Trong những năm tháng phụ trách đoàn văn công nhân dân Quảng Bình, cụ đã cử bà Trần Nam Kỷ- con gái của cụ Trần Bơi, một nghệ nhân hò khoan và Hò Mái Nhì của huyện Lệ Thủy trước đây, đi học ca Huế và dân ca Bình Trị Thiên với Nghệ sỹ nhân dân Châu Loan.
Có thể nói bà Nam Kỷ là một trong những nghệ nhân của tỉnh Quảng Bình còn lưu giữ được nhiều làn điệu hò của Quảng Bình cũng như ca rất hay và bài bản các làn điệu ca Huế như: Nam Ai, Nam Bằng, Tứ Đại Cảnh, Cổ Bản, Tương Tư Khúc… học được từ nghệ sỹ Châu Loan. Giờ bà cũng đã ở tuổi gần đất xa trời. Và cũng ít người nhắc đến kho tàng quý giá mà bà đang giữ. Khi cây đàn đã không còn giữ được tiếng tốt, cụ lại tặng nó cho Bảo tàng Quảng Bình như một kỷ vật của lịch sử.
Học trò cụ Khóa chỉ có dăm ba người. Phần vì các điệu đàn của cụ học từ thầy Tồn là các điệu ca Huế không phổ thông ở Quảng Bình, phần học đàn tỳ khó học, rồi do chiến tranh lưu lạc, người chết trận, người chết bom nên truyền nhân của cụ Khóa chẳng còn ai. Cụ buồn lắm. Suốt cả một thời gian dài, dù tuổi cao sức yếu nhưng đi đâu, làm gì, cụ cũng mong ngóng tìm người để truyền lại lối đàn của thầy Tồn.
Ngày trước cô Phạm Thị Huệ đến xin theo học. Cụ thả lòng, ra sức truyền dạy, những ngón đánh, ngón vỗ, ngón vuốt, ngón phi của từng bản đàn đã được cụ hướng dẫn và được Huệ ghi âm lại cẩn thận. Nghe đâu còn mang sang tận trời Tây trình diễn. Rồi sau này, thêm một người nữa đã đến học với cụ. Hai bài "Cổ bản" và "Tứ đại cảnh" học từ cụ, chị Thủy đều đạt loại giỏi trong các kỳ thi tốt nghiệp.
Nhưng rồi, trò cũng mải mê việc của trò, mất hút trong cuộc mưu sinh bận rộn. "Có lẽ, nhiều người ham mới, nới cũ, dễ làm khó bỏ, nên tôi chưa tin họ đàn Rặt Nòi lối đàn tài tử điệu ca Huế". Cụ từng nói như vậy. Chỉ còn lại cây đàn tri âm, vẫn để ở đầu giường, để mỗi khi thức dậy, trong ký ức nhớ nhớ, quên quên, cụ lại cầm cây đàn tỳ, tấu lên một khúc nhạc. Tôi hiểu nỗi cô đơn của cụ Khóa. Nỗi cô đơn của một người gần đất xa trời vẫn không tìm được tri âm.
Mấy năm trước, nghe nói cụ có lên gặp Hội văn nghệ dân gian Việt Nam đề xuất công nhận nghệ nhân dân gian, để nhà nước quan tâm cùng cụ lưu giữ tiếng đàn của thầy Trợ Tồn cho khỏi bị thất truyền. Để thầy Tồn mỉm cười nơi chín suối. Nhưng rồi chuyện gặp trắc trở. Đến nay, cụ Khóa vẫn chưa được công nhận nghệ nhân dân gian. Danh hiệu chẳng có mấy ý nghĩa với một người như cụ Khóa, cả cuộc đời tham gia cách mạng, mang tiếng đàn phục vụ đồng bào. Nhưng không tìm được truyền nhân, cụ Khóa buồn lắm. Trong câu chuyện với tôi, cụ chỉ nhắc đến một chữ buồn. Con cháu của cụ do cuộc sống khó khăn trong chiến tranh và có lẽ, không gặp thời nên đã không giúp được cụ một cách trọn vẹn để giữ lại "tiếng đàn tỳ bà có một không hai" như lời của ông Trần Ngọc Bích đã nói.
Xưa, Bá Nhỡ còn có ấp Mê Thảo để lánh nạn những năm cuối đời, để ở đó tiếng đàn kỳ diệu của ông thi thoảng còn được vang lên, còn tìm được tri âm. Còn cụ Châu Đình Khóa cứ ngồi im lặng ở đó. Chắc cụ đang ước, được chơi lại khúc Tứ đại Cảnh, Cổ Bản, Hành Vân... Bởi có lẽ, chỉ nay mai thôi, tiếng đàn tỳ thần diệu ấy sẽ bị đẩy lùi vào dĩ vãng. Rồi cũng như cố nghệ sĩ Ba Du đã ra đi và vĩnh viễn mang lên cõi vĩnh hằng 36 tiếng cười của nghệ thuật tuồng truyền thống. Tiếng đàn tỳ ấy ra đi mang theo nỗi buồn thiên cổ của cụ Khóa