Chế Lan Viên: Người thẩm thơ của một thời

Trước Cách mạng tháng Tám, với tập "Điêu tàn" xuất hiện giữa làng thơ Việt tựa như "một niềm kinh dị", Chế Lan Viên đã khẳng định mình như một trong số ít những thi nhân Thơ Mới có phong cách nghệ thuật thật độc đáo, có thể trụ lại trước dòng nước bạc của thời gian.

Sau Cách mạng, nhất là trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1975, Chế Lan Viên viết khỏe, viết đều, và dù luôn bám chắc mục tiêu phục vụ chính trị, thơ ông vẫn có những tìm tòi đổi mới rất đáng kể, đủ để ông đồng hành được và trở thành một trong vài nhà thơ lớn nhất của thời đại. (Với cá nhân tôi, về chất lượng nghệ thuật, tập "Ánh sáng và phù sa" của Chế Lan Viên (in năm 1960) xứng đáng được xếp vào "chiếu nhất" của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1954-1960).

Không những thế, trong bối cảnh của một nền phê bình văn học cách mạng còn tương đối mỏng về đội ngũ, thì Chế Lan Viên- với kiến văn uyên bác, với tư duy chính luận sắc sảo, với bề dày của "văn hóa thơ", và nhất là với ý thức kiên trì đeo bám đời sống sáng tác- đã thực sự đóng vai trò của một cây bút phê bình thơ chủ lực, một người thẩm thơ đầy uy tín trên thi đàn. Nói đến di sản văn học của ông Chế, tất không thể bỏ qua mảng trước tác quan trọng này.

Nhìn vào các cuốn sách mà Chế Lan Viên đã cho in: "Nói chuyện văn thơ" (1960), "Phê bình văn học" (1961), "Vào nghề" (1962), "Suy nghĩ và bình luận" (1962- 1970), "Bay theo đường dân tộc đang bay" (1963- 1976)- đó là chưa kể đến các cuốn nằm trước và sau khoảng thời gian này: "Kinh nghiệm tổ chức sáng tác" (1951), "Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân" (1976- 1980), "Nàng tiên trên mặt đất" (1978- 1983), "Ngoại vi thơ" (1975- 1986)- ta sẽ thấy rằng sách của ông, ngoài một vài cuốn thực chất là sách phổ biến kiến thức văn chương, sách "dạy nghề" sáng tác, còn lại là tiểu luận phê bình văn học "chính ngạch", mà chủ yếu là viết về thơ.

Thêm một ghi nhận nữa: có lẽ Chế Lan Viên viết tiểu luận phê bình thơ còn nhiều hơn nhiều nhà phê bình, bình luận thơ cùng thời. Điều này, ngoài nhu cầu tự nhận thức vốn rất mạnh ở con người sáng tác Chế Lan Viên, còn có một lý do khá dễ hiểu: với uy tín văn chương và vị trí của một cán bộ "có gang có thép" trong làng văn nghệ, ông có nhiều điều kiện để được viết (và phải viết) hơn nhiều người khác.

Viết bài tựa cho các tập thơ theo đề nghị của nhà xuất bản. Viết bài bình luận thơ do các báo đặt. Viết tham luận nhân các hội thảo, hội nghị văn học trong và ngoài nước. Vậy, phê bình thơ của Chế Lan Viên thực sự là như thế nào trong khoảng 1954- 1975?

Để nói một cách ngắn gọn quan điểm của người viết bài này về phê bình thơ Chế Lan Viên (dù vì vậy mà không tránh khỏi đơn giản hóa vấn đề) có thể mượn nhan đề tham luận ông viết tại Đại hội các nhà văn năm 1963, "Suy nghĩ trong những điều Đảng nghĩ", diễn đạt thành: "Phê bình thơ trong những điều Đảng nghĩ".

Theo tôi, cây phê bình thơ Chế Lan Viên dù có rậm rịt cành nhánh đến đâu thì vẫn từ gốc này mà ra, nó là cái chủ đạo, xuyên suốt, "dĩ nhất quán chi" (một, nhưng bao trùm tất cả). Ngay trong tham luận này, ông tâm đắc trích dẫn tác giả Trường Chinh: "Nghệ sỹ tốt theo quan điểm của chúng ta là nghệ sỹ xã hội chủ nghĩa có tính Đảng cao, sống có lý tưởng, có hoài bão lớn: lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, hoài bão góp phần giải phóng cho nhân dân, giải phóng cho Tổ quốc, giải phóng cho loài người thoát khỏi mọi áp bức bóc lột..." và thư Trung ương: "Văn nghệ xã hội chủ nghĩa của ta phản ánh cái mới và đấu tranh cho cái mới thắng lợi. Không những nó chỉ thể hiện cuộc sống mới và con người mới, mà nó còn tích cực góp phần thúc đẩy cuộc sống mới phát triển, góp phần sáng tạo và giáo dục con người mới" (Bài đd. Chế Lan Viên toàn tập, tập IV, NXB Văn học, 2009. Các trích dẫn trong bài đều lấy từ toàn tập).

Đó là lời dặn, mà cũng là lời yêu cầu, thậm chí là mệnh lệnh đối với các văn nghệ sỹ cách mạng. Nó không nằm ngoài những quyết định luận cơ bản: văn nghệ phải cổ vũ ca ngợi cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn nghệ phải hướng về công nông binh- lực lượng nòng cốt của cách mạng, những con người mới của xã hội mới- vừa như đối tượng phản ánh, vừa như đối tượng phục vụ.

Phê bình thơ của Chế Lan Viên, những phán đoán giá trị về thơ của ông, có thể nói, phần chủ yếu nhất chính là được xác định trong hệ tọa độ này. Chế Lan Viên từng viết, như một tuyên ngôn: "Vấn đề Đất đặt ra trước Hoa hồng. Vấn đề Sống đặt ra trước vấn đề Nghệ thuật, tác phẩm... Sống trước đã. Sống trong quần chúng và cùng quần chúng. Sống với ý thức làm người (và để làm văn). Chỉ sống như thế thì khi viết ra mới không là nghiêng bình rượu riêng, rót chén rượu riêng, nhấm nháp cuộc đời riêng của mình ngọt ngào hay chua xót, mà chính là đổ dầu vào guồng máy lớn, chuyển vần những sức sống chung, dựng xây vào cuộc sống chung" (Bài "Sống và viết", tập III).

Do vậy, dễ hiểu khi đứng trước một tập thơ, dường như điều khiến Chế Lan Viên quan tâm nhất là tác giả/ những tác giả của nó đã thực sự "sống" hay chưa- tức là đã thực sự cùng một chiều chiến đấu nghĩ suy với quần chúng, đã thực sự thấm những gian khổ và vinh quang trong sự nghiệp cách mạng của quần chúng, đã thực sự hòa làm một với quần chúng hay chưa? Nếu thực hiện được yêu cầu đó, thơ sẽ đạt tới hai giá trị lớn: "phản ánh lịch sử" và "thực".

Trong bài phê bình "Tuyển tập thơ Việt Nam 1945- 1960", khả năng phản ánh lịch sử của tuyển thơ chính là một trong những phẩm chất được Chế Lan Viên ghi nhận: "Chả cần phải tỉ mỉ để dẫn ra rằng: đọc "Nhớ máu", nhớ ngày Tổng khởi nghĩa; "Ngọn quốc kỳ", nhớ cách mạng bắt đầu; "Phá đường" lúc đi vào kháng chiến; "Ta đi tới" khi trở lại hòa bình v.v...

Nhưng quả là ta đi tìm thơ mà cũng gặp bước đường đi của lịch sử". Trong bài "Cái sáo trong thơ", ông trích mấy câu của tác giả NN tả giấc mơ của vợ một người chiến sỹ đã hy sinh: "Đứa con nửa đêm giật mình khóc/ Người vợ tưởng đâu còn năm trước/ Hơi thở của chồng ra ấm áo/ Quờ tay mới biết là chiêm bao/ Nhớ lại chồng xưa hay hút thuốc/ Mùi hơi năm ấy thoảng đi đâu", và bình luận: "Tả một giấc mơ, nhưng thật xa các giấc điệp mơ màng từ trước, thật là giấc mơ của một người đàn bà nông dân, chính vì tác giả đã hiện thực bằng những chi tiết rất sát đúng thực tế".

"Thực", tức không "sáo", là điều theo Chế Lan Viên ai làm thơ cũng có thể đạt được, với điều kiện: "Cái chính là nói cho đúng cái sống thực của quần chúng công nông binh, với những tâm tình sự việc cụ thể". Muốn vậy, người làm thơ tất không thể không "sống trong quần chúng và cùng quần chúng" (Bài "Sống và viết", tập III).

Nhưng chỉ như vậy đã coi là đủ chưa? Năm 1961, viết "Mấy vấn đề về thơ qua Tuyển tập" (Tuyển tập thơ Việt Nam 1945- 1960), sau khi đã gác sang một bên những trường hợp thành công, Chế Lan Viên băn khoăn về đại cục: "Tôi có cảm tưởng là những nhà thơ chúng ta chưa thật nhuần nhuyễn với thời đại chúng ta, như những nhà thơ thời Thơ Mới đã nhuần nhuyễn với giai cấp của họ, hoàn cảnh của họ".

Ông lý giải băn khoăn này bằng cách nêu một băn khoăn khác: "Ta đã hiểu thời đại ta rồi, tốt lắm. Ta đã yêu thời đại ta rồi, tốt hơn. Nhưng ta còn phải "mê" thời đại của ta hơn nữa. Lý trí, tình cảm ta đã gắn liền với nó, nhưng còn máu huyết, thịt da ta?". Theo ông, "thơ cần phải mê hơn", và "thơ cần có thêm chất tư tưởng".

Yêu cầu thứ nhất dường như thuộc về phạm trù tình cảm. Nhưng yêu cầu thứ hai thì rõ ràng là thuộc về phạm trù nhận thức, lập trường chính trị. Và ở yêu cầu thứ hai này, hơn ở điểm nào hết, Chế Lan Viên quả thực đã giữ vị trí của một chiến sỹ hăng hái đấu tranh trên mặt trận văn hóa văn nghệ, dùng phê bình thơ như một lợi khí.

Năm 1965, viết bài tựa cho tập thơ "Sức mới" của các tác giả trẻ thời chống Mỹ (Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Phạm Ngọc Cảnh v.v...), ông đòi hỏi: "Chúng ta cần thấy chất thép sắc nhọn hơn, và tiếng xung phong hào hùng hơn trong thơ các bạn. Phải cất cao hơn tiếng nói của lý tưởng cách mạng trong thơ. Cái lý tưởng thôi thúc ám ảnh đến thành một tâm trạng" (Bài "Đốt cháy hơn nữa ngọn lửa lý tưởng trong thơ bạn trẻ", tập IV).

Với thơ của những người thợ, cũng vẫn đòi hỏi ấy: "Thơ công nhân lại càng nên có thép. Cái nhiệt huyết, cái tâm hồn nóng bỏng vì yêu thương hay căm giận, cái tinh thần chiến đấu, cái hào khí cách mạng, tất cả các cái ấy, chất thép ấy, ta còn đòi hỏi nữa ở trong thơ các bạn, như ở trong thơ nói chung" (Bài "Thơ của thợ", tập IV).

Không thể không nói tới Chế Lan Viên ở mảng phê bình về thơ của những người cùng thế hệ, cùng điểm xuất phát với ông: những nhà thơ trong phong trào Thơ Mới lãng mạn. Cụ thể, Chế Lan Viên đã viết bài "Trời mỗi ngày mỗi sáng của Huy Cận" (1959, tập III) và bài "Một nhà thơ qua 15 năm cách mạng: Tế Hanh" (1960, tập III).

Tuy nhiên, rải rác ở nhiều bài khác nhau, nếu có thể, ông vẫn cố gắng tạo ra những liên hệ, đối chiếu giữa thơ lãng mạn trước kia và thơ cách mạng bây giờ, giữa thơ của những tác giả trước kia là lãng mạn và bây giờ là cách mạng.

Chú ý tới giọng điệu, phong cách, cá tính sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ, song khi viết về những tác giả này, Chế Lan Viên quan tâm hơn cả là quá trình lột xác của họ, quá trình họ gột rửa cái cũ để hòa mình vào cái mới, sống với cái mới, thấm cuộc sống lao động và chiến đấu của quần chúng, của toàn dân tộc.

Trong sự nhìn nhận của nhà phê bình Chế Lan Viên, sự thay đổi này- chứ không phải cái gì khác- chính là thước đo giá trị nghệ thuật cơ bản nhất đối với thơ của những nhà thơ "cũ". Ông vui mừng trước sự thay đổi ấy: "Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, nữ thi sỹ Anh Thơ... là những người từ thế giới một người đến với thế giới nhiều người, từ thung lũng đau thương ra đến cánh đồng vui, là những người xưa kia tự xé da thịt mình, nay đi vá lại thịt da và xây dựng mùa xuân" (Bài "Từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui", tập III).

Vượt lên chính mình, những nhà thơ "cũ" đã nhịp bước cùng thế hệ nhà thơ "mới", đồng hành cùng dân tộc và góp phần làm nên một nền thơ cách mạng tràn đầy sức sống, điều khiến Chế Lan Viên có thể tự hào tuyên bố trước bạn bè quốc tế: "Đất nước chúng tôi giờ chính là tâm hồn chúng tôi. Và tâm hồn chúng tôi giờ chính là một mảnh đất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Giữa những người làm thơ và bạn đọc có một sự liên hệ mới.

Các tập thơ đều in từ 5.000 đến 8.000 bản mỗi lần, thơ Tố Hữu in 6 vạn bản, và thơ Hồ Chủ tịch một năm in 50 vạn bản. Bởi vì không còn cái chia rẽ một bên là tâm hồn các tác giả, một bên là những người đọc họ. Có được những sự kiện ấy là nhờ có chủ nghĩa Marx và Đảng Lao động Việt Nam . Mon Parti m'a rendu les yeux et la mémoire, Đảng làm nên đất nước là cái đề tài vô tận. Đảng lại làm nên con mắt vô tận để nhìn và yêu mến đời sống mới của đất nước" (Bài "Từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui", tập III).

Chế Lan Viên là một nhà thơ viết phê bình chứ không phải một nhà phê bình viết phê bình, song với những gì ông viết, thật gượng ép nếu đưa phê bình thơ của ông vào cái khung "phê bình nghệ sỹ"- theo một sự phân loại về phê bình văn học đã khá phổ biến. Ngày nay hiếm ai còn nhìn thơ bằng "con mắt phê bình" kiểu Chế Lan Viên.

Nhưng ở thời của ông, điều đó là cần thiết- xin nói thêm rằng đại đa số những vấn đề Chế Lan Viên "sờ tới" đều là những vấn đề nằm ở trung tâm của nền thơ ca đương thời- và dẫu sao thì cũng khó lòng làm khác đi được. Trong bối cảnh ấy, trong sự chế định lịch sử ấy, cần phải khẳng định rằng Chế Lan Viên đã xuất hiện với tư cách nhà thẩm thơ lớn của một thời

Hoài Nam

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.