Cần hiểu đúng về bệnh tan máu bẩm sinh

Việt Nam hiện có khoảng 13 triệu người, tương đương 13% dân số, mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (TMBS). Cha mẹ hãy thực hiện tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh vì hạnh phúc gia đình...

Tan máu bẩm sinh là căn bệnh âm thầm nhưng mỗi năm cướp đi tính mạng của hàng trăm đứa trẻ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Việt Nam hiện có khoảng 13 triệu người, tương đương 13% dân số, mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (TMBS). Trong đó, người miền núi chiếm tỷ lệ khá cao, từ 20- 40%. Mỗi năm có khoảng hơn 8.000 trẻ em sinh ra bị bệnh TMBS, trong đó khoảng hơn 2.000 trẻ bị bệnh nặng. 

“Cha mẹ hãy thực hiện tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh vì hạnh phúc gia đình, vì tương lai nòi giống” là thông điệp của Việt Nam năm nay nhân kỷ niệm lần thứ 34 ngày TMBS thế giới 8/5.

Nhiều cặp vợ chồng sau khi sinh con mới biết mình mang gen bệnh

Vốn là cặp vợ chồng khỏe mạnh, năm 2014, gia đình anh Hà Quang Chính (thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn) vui mừng đón chào cậu con trai đầu lòng kháu khỉnh nặng 3,2kg. Những tháng đầu, cháu Hà Quang Chính phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác. Nhưng rồi, khi được khoảng 6 tháng tuổi, cháu thường xuyên bị sốt kèm theo quấy khóc không rõ nguyên nhân. 

Vợ chồng anh Chính đưa con đi khám ở nhiều nơi nhưng không tìm ra bệnh. Chỉ đến khi đưa con về Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Hà Nội thử máu, các bác sỹ kết luận chỉ số hồng cầu của cháu Nghĩa bất thường. Sau đó, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương (HHTMTƯ) chẩn đoán cháu bị TMBS thể nặng thì vợ chồng anh mới biết, đây là căn bệnh di truyền, phải truyền máu và uống thuốc thải sắt suốt đời.

Hai vợ chồng anh Chính đi làm các xét nghiệm máu mới biết mình đều mang gen bệnh TMBS. Sau những tháng ngày suy sụp, vợ chồng họ động viên nhau cố gắng vượt qua, mỗi tháng một lần đưa con đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn truyền máu. Đọc sách báo hay nghe bạn bè mách bảo phương pháp điều trị nào tốt cho con, anh Chính đều tìm hiểu và áp dụng.

Ao ước có một đứa con khỏe mạnh luôn cháy bỏng nhưng cả hai vợ chồng đều lo sợ và chưa dám nghĩ tới sinh đứa con tiếp theo. Với trường hợp như vợ chồng anh Chính, họ có thể sinh được con khỏe mạnh hay không khi mỗi lần sinh con có 25% khả năng con bị bệnh, 50% khả năng con mang gen bệnh, 25% khả năng con hoàn toàn khỏe mạnh không mang gen bệnh? 

Theo TS Bạch Quốc Khánh, Viện trưởng Viện HHTMTƯ, trường hợp 2 vợ chồng cùng mang gen bệnh, để sinh ra được một đứa con khỏe mạnh, hiện nay có hai phương pháp: Thứ nhất là thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán trước sinh không muộn hơn tuần thai thứ 20. 

Để thực hiện phương pháp này, các cặp vợ chồng như anh Chính có thể đến các bệnh viện chuyên khoa sản hoặc Viện HHTMTƯ. Thứ hai, có thể thực hiện việc chẩn đoán trước chuyển phôi. Để thực hiện phương pháp này, có thể đến các bệnh viện chuyên khoa sản như BV Phụ sản TƯ, BV Phụ sản Hà Nội, BV Tâm Anh, BV Vinmec...

Bệnh nhi tan máu bẩm sinh điều trị tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương.
Bệnh nhi tan máu bẩm sinh điều trị tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương.

Khám sức khỏe tiền hôn nhân rất quan trọng

Theo BS Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông – Giáo dục, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Bộ Y tế, tỷ lệ người dân mang gen TMBS ở vùng miền núi, đặc biệt là ở đồng bào dân tộc thiểu số cao, một trong những nguyên nhân chính là do kết hôn cận huyết. Riêng 6 dân tộc chủ yếu ở miền núi phía Bắc như Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao và Mông thì tỷ lệ mang gen và mắc bệnh khá cao như: 26,1% ở dân tộc Tày; 25,5% ở dân tộc Dao, 24,7% ở dân tộc Nùng… 

Đặc biệt, tại Sơn La, dân tộc Xinh Mun có tỷ lệ mang gen bệnh rất cao, lên tới hơn 80%. Các tỉnh miền núi, Tây Nguyên (Kon Tum, Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông) tỷ lệ mang gen bệnh đối với các dân tộc Êđê, Tày, Thái… trên 40%, trong khi tỷ lệ này ở người Kinh chỉ khoảng 2 – 4%. “Tại các địa bàn này, ước tính mỗi năm, khoảng 100.000 trẻ ra đời thì có khoảng 250 trường hợp thai nhi bị phù (không thể sống), khoảng 200 trẻ bị bệnh ở mức độ trung bình đến nặng - là những bệnh nhân sẽ phải điều trị cả đời” – BS Mai Xuân Phương cho biết.

Theo BS Phương, Việt Nam đã có những nỗ lực lớn song việc điều trị mới chỉ giúp cải thiện tốt cuộc sống của người bệnh chứ không thể chữa khỏi bệnh. Chất lượng sống của các bệnh nhân TMBS rất thấp, số lượng tử vong lớn. 

Qua báo cáo, từ năm 2001 đến nay, có tới 20% bệnh nhân chết ở lứa tuổi từ 6 - 7, nhiều em tử vong ở độ tuổi 16 - 17, hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh nặng không có cơ hội xây dựng gia đình. Hiện nay, số lượng bệnh nhân TMBS đã làm các bệnh viện quá tải, tạo áp lực nặng nề lên ngân hàng máu cũng như gánh nặng về chi phí xã hội.

Vậy, TMBS có dự phòng được hay không? Theo BS Phương, kinh nghiệm của thế giới cho thấy, có thể phòng bệnh hiệu quả tới 90-95% bằng các biện pháp như khám sức khỏe trước hôn nhân để xác định xem cá nhân có mang gen bệnh hay không, từ đó giúp cho họ có sự lựa chọn đúng đắn về hôn nhân cũng như quyết định mang thai và sinh đẻ nhằm sinh ra những đứa con không mắc bệnh. Thứ hai là tầm soát (sàng lọc) trước sinh, đặc biệt là đối với các cặp vợ chồng cùng mang một thể bệnh TMBS. 

Theo BS Phương, vấn đề then chốt chính là việc xây dựng và triển khai chương trình TMBS Quốc gia. Chương trình TMBS Quốc gia sẽ góp phần kiểm soát bệnh, khống chế sự phát triển của nguồn gen bệnh, hạn chế trẻ em sinh ra bị bệnh, cải thiện chất lượng sống cho người bệnh và nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. 

Trong đó, có những giải pháp cụ thể như: đưa bệnh TMBS vào chương trình sàng lọc cho các cặp đôi trước kết hôn; đưa bệnh TMBS vào danh sách 4 bệnh cần được được sàng lọc trước sinh; đưa xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu là xét nghiệm bắt buộc đối với các sản phụ đến khám thai lần đầu; tuyên truyền, vận động các gia đình có con trong độ tuổi học sinh phổ thông tự nguyện tham gia sàng lọc bệnh tan máu bẩm sinh; BHYT xem xét thanh toán chi phí chẩn đoán trước sinh…

“Mong muốn của ngành y tế chúng tôi trong tương lai là phối hợp với ngành Giáo dục và Đào tạo sẽ thông tin về bệnh TMBS và trở thành bài giảng chính thức cho sinh viên ngành y, giáo viên bộ môn sinh học và được lồng ghép vào nội dung giảng dạy cho học sinh, sinh viên, vì đây là đối tượng sẽ bước vào độ tuổi kết hôn, sinh đẻ sau này”, BS Mai Xuân Phương cho biết.

TS.BS Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trung tâm Thalassemia, Viện HHTMTƯ: Bệnh TMBS có thể chữa trị được bằng phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài hoặc phương pháp gen trị liệu. Máu dây rốn của những đứa trẻ khỏe mạnh có thể được dùng để ghép tế bào gốc cho bệnh nhân TMBS. Hiện nay, Viện HHTMTƯ đang phối hợp với các đơn vị sản khoa triển khai việc chẩn đoán trước sinh cho các cặp vợ chồng có mang gen bệnh và đã sinh ra những đứa con bị bệnh TMBS. Trong trường hợp đứa trẻ chỉ mang một gen bệnh hoặc là hoàn toàn bình thường sẽ tiến hành thêm xét nghiệm hòa hợp giữa đứa trẻ đang trong bụng mẹ và bệnh nhân TMBS (mà là anh chị của đứa trẻ đó) để sau khi sinh sẽ tiến hành sử dụng máu dây rốn này để ghép cho cháu bé bị bệnh TMBS là anh chị ruột.
Trần Hằng

Các tin khác

Vinmec Đà Nẵng loại bỏ thành công khối u to như thai 3 tháng

Vinmec Đà Nẵng loại bỏ thành công khối u to như thai 3 tháng

Các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Vinmec Đà Nẵng vừa điều trị thành công cho một bệnh nhân đa nhân xơ tử cung phức tạp, trong đó khối u lớn nhất có kích thước tương đương thai nhi 3 tháng. Khối u gây biến dạng toàn bộ tử cung, rong kinh kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống người bệnh.

Bộ Y tế lên tiếng về nguồn lây virus Hanta trên tàu du lịch quốc tế

Bộ Y tế lên tiếng về nguồn lây virus Hanta trên tàu du lịch quốc tế

Trước các thông tin quốc tế liên quan đến chùm ca bệnh do virus Hanta xuất hiện trên tàu du lịch quốc tế MV Hondius, Bộ Y tế đã thông tin về những đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về mức độ lây lan của chủng virus này. Bộ Y tế cho biết, Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh.

Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm

Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm

Tỷ lệ người dân mắc tăng huyết áp tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, cứ khoảng 4 người trưởng thành thì có 1 người bị tăng huyết áp, nhưng nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi đã xuất hiện biến chứng nguy hiểm.

Giải pháp nào làm giảm gánh nặng bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam

Giải pháp nào làm giảm gánh nặng bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế, tại Việt Nam, các bệnh không lây nhiễm hiện chiếm khoảng 80% tổng số tử vong; hơn 1/4 người trưởng thành từ 18 đến 69 tuổi có tăng huyết áp; số người mắc đái tháo đường đã lên đến gần 5 triệu người, tương đương hơn 7% dân số trưởng thành.

Lỗ hổng pháp lý và “trò chơi” trốn tìm của các cơ sở thẩm mỹ “chui”

Lỗ hổng pháp lý và “trò chơi” trốn tìm của các cơ sở thẩm mỹ “chui”

Sự bùng nổ của thị trường làm đẹp tại Việt Nam những năm gần đây đang kéo theo một hệ lụy nhức nhối: Hàng chục ngàn ca biến chứng mỗi năm. Đằng sau những lời quảng cáo “có cánh” về vẻ đẹp tức thì là những cơ sở thẩm mỹ “chui”, những bác sĩ tự phong và một lỗ hổng quản lý đang thách thức tính mạng người dân.

Cảnh báo nhiều dịch bệnh gia tăng trong mùa hè

Cảnh báo nhiều dịch bệnh gia tăng trong mùa hè

Sốt xuất huyết, tay chân miệng, viêm não Nhật Bản, viêm não mô cầu, thuỷ đậu...là những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có thể bùng phát trong mùa hè khi thời tiết nóng ẩm là điều kiện thuận lợi để virus, vi khuẩn phát triển mạnh.

Chế tạo thành công hệ thiết bị đo đường huyết không xâm lấn

Chế tạo thành công hệ thiết bị đo đường huyết không xâm lấn

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp quốc gia: "Nghiên cứu thiết kế và chế tạo hệ thiết bị đo nồng độ đường huyết không xâm lấn sử dụng công nghệ phân tích quang phổ tán xạ Raman đối với Glucose trong máu phối hợp với học máy trong hỗ trợ theo dõi bệnh đái tháo đường từ xa", mã số ĐTĐL.CN.25/23.

Sản phụ 140kg sinh con trai 4,6kg thành công

Sản phụ 140kg sinh con trai 4,6kg thành công

Sản phụ có cân nặng 140kg, tiền sản giật nặng với chỉ số huyết áp lên tới 197/120 mmHg - tình trạng sản khoa nguy hiểm có thể ảnh hưởng trực tiếp tới an toàn của cả mẹ và thai nhi - đã sinh bé trai nặng 4,6kg thành công. 

Xu hướng mở rộng tổ hợp xét tuyển ở khối ngành Y, Dược có đáng lo ngại?

Xu hướng mở rộng tổ hợp xét tuyển ở khối ngành Y, Dược có đáng lo ngại?

Những mùa tuyển sinh gần đây, nhiều cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe liên tục mở rộng tổ hợp xét tuyển. Bên cạnh các tổ hợp truyền thống như B00 (Toán, Hóa, Sinh), không ít trường bổ sung các tổ hợp có môn Ngoại ngữ, Tin học, thậm chí là môn Ngữ văn. Xu hướng này đang tạo ra nhiều luồng ý kiến trái chiều trong dư luận, nhất là khi ngành Y, Dược vốn được xem là lĩnh vực đặc thù, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người.