Trước khi đến gặp anh, tôi vẫn hình dung nhà báo Tiến Phú, người đã có trong tay hàng chục giải thưởng báo chí lớn nhỏ, hàng trăm bài báo xuất sắc về nhiều lĩnh vực, mà giờ đã là Trưởng ban, chức vụ ngang hàng cấp Vụ trưởng ở một tờ báo lớn, sẽ là người đạo mạo, khó gần, thậm chí đã… gác bút và yên vị ngồi trên bàn giấy. Nhưng những hình dung đó đã lập tức bị xóa nhòa khi bước vào phòng làm việc, trên bàn anh vẫn ngổn ngang giấy bút, sổ sách ghi chép tài liệu của chuyến đi công tác ở miền Tây mới trở về và anh đang phải viết gấp bài cho báo.
Thời công nghệ số, trong khi các loại máy tính, điện thoại thông minh, mạng Internet… đang ồ ạt chiếm lĩnh và giúp ích không ít cho các nhà báo, thì chỗ ngồi làm việc của anh ngoài hàng chục tờ báo là các ấn phẩm theo tiêu chuẩn mà anh đọc không bỏ sót một tờ nào, là chiếc điện thoại giá chỉ 300 nghìn đồng, dăm bảy cái bút bi chẳng cái nào còn đầy mực và đầy ắp những trang bản thảo chi chít chữ viết tay đã đi cùng anh khắp chiều dài đất nước.
Tốt nghiệp Đại học Báo chí năm 1984, Tiến Phú về công tác tại Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội. Anh thuộc lớp phóng viên đầu tiên được đào tạo cơ bản về ngành báo hình. Bị những cái mới lạ của lĩnh vực này quyến rũ, cộng với sức trẻ và sự năng động của mình, anh đã trở thành một cây bút đầy xông xáo trên mọi mặt trận “nóng” của thời sự báo chí những năm 1984 - 1985.
Anh Phú nhớ lại: Người xưa có câu “Điếc không sợ súng”, làm nghề có lúc tôi bị đam mê quá nên… hóa liều. Số là trong vụ cướp tiệm vàng Kim Yến, 66 phố Bát Sứ năm 1989, trong lúc đạn bắn đùng đoàng, mọi người chạy dạt thì tôi lại điềm tĩnh đi vào ngôi nhà còn nồng nặc mùi thuốc súng. Tôi năn nỉ đồng chí Phạm Chuyên, lúc đó là Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội, đồng chí Nguyễn Đức Nhanh lúc đó là Trưởng phòng Cảnh sát điều tra, xin vào để quay những thước phim đầu tiên về vụ thảm sát của bọn cướp, kịp thời lên án hành vi giết người man rợ đồng thời nêu lên bài học cảnh giác cho người dân thủ đô.
Là người vào đầu tiên và khi bật đèn ở máy quay phim lên (lúc đó căn nhà bị cắt điện), cảnh tượng hãi hùng hiện ra với hàng trăm lỗ đạn (vết đạn găm trên tường, trần nhà, trên tủ kính). Xác người bị hại và tên cướp gục trên nền nhà. Sau này mọi người còn bảo: May mà chỉ có một tên cướp, chứ có thêm một tên nữa ẩn náu ở đâu đó xả súng ra, thì tôi và các chiến sĩ Công an khó mà thoát chết. Trong tôi sẵn máu “ngông cuồng” lắm nên lần khác tôi theo chân các chiến sĩ hình sự đuổi theo bọn cướp giật.
Tôi ngồi sau xe máy đồng chí Dương Văn Giáp, giờ là Trưởng phòng Hình sự Công an TP Hà Nội. Xe có lúc chạy đến 120 km/giờ, nhưng rất tiếc vì máy quay của Đài quá nặng (15kg) nên cậu chiến sĩ chở PV quay phim không đuổi kịp, và chuyến phục kích ấy “thất bại”.
Ức quá, tôi về bỏ tiền túi mua camera - Panasonic M7, loại máy băng nhỏ, gọn nhẹ chỉ nặng chưa tới 3kg. Tự mình học quay, rồi cùng với anh em đội chống cướp giật - Phòng Cảnh sát hình sự, Công an TP Hà Nội đã ghi hình đầy đủ, chi tiết các cuộc truy đuổi bọn cướp giật. Qua đó khán giả xem truyền hình mới thấy hết những gian nguy mà người Chiến sĩ Công an phải đối mặt hàng giờ, hàng ngày”.
Cho đến nay, nhà báo Tiến Phú đã có gần 30 năm trong nghề, đoạt nhiều giải thưởng lớn cho các tác phẩm báo chí như Giải B Báo chí quốc gia với tác phẩm Khi xã lên phường, Giải C - Xứng danh người Hà Nội ở Trường Sa, ba huy chương Vàng Liên hoan Truyền hình toàn quốc với các tác phẩm Phóng sự truyền hình Ai ơi chớ bỏ nhà hoang; Có phép cũng sai; Lại rộn ràng tiếng thoi đưa, nhiều huy chương bạc và bằng khen qua các liên hoan truyền hình trong nhiều năm… Bốn giải Báo chí Ngô Tất Tố của Hội Nhà báo Hà Nội.
Nhà báo Tiến Phú vẫn thừa nhận rằng, nghề báo đã mang lại cho anh nhiều niềm hạnh phúc. Hạnh phúc lớn nhất là được đi khắp mọi miền dù đó có thể là vùng đất đầy thử thách, đầu sóng ngọn gió. Nhà báo, với “quyền lực” tối thượng được trao gửi, đều có thể đặt chân đến để mà khám phá, ghi chép, phát hiện ra được những cái hay, cái đẹp nhằm mang lại cho độc giả, khán giả những thông tin hữu ích.
Anh là một nhà báo hạnh phúc vì ít nhiều đã thực hiện được những điều đó. Anh cũng tự thổ lộ rằng, trong nhiều năm làm báo, ấn tượng lớn nhất của anh là chuyến đi Trường Sa năm 1998. Thời ấy được đi Trường Sa là một niềm hạnh phúc của bất cứ nhà báo nào. Dù với anh, chuyến đi kéo dài 15 ngày ấy đầy thử thách và khám phá với chính mình. Nhưng anh cũng thầm cảm ơn miền đất ấy, vì đã cho anh một cái nhìn mới về tổ quốc, về con người.
Anh Tiến Phú kể: “Trường Sa và Hoàng Sa là vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt
Để có được ngày hôm nay, nhà báo Tiến Phú khẳng định rằng, anh luôn phải suy ngẫm, tìm tòi, sáng tạo trong chặng hành trình của mình. Người làm báo giỏi là người biết phát hiện những đề tài đặc biệt có sức lay động, có sức cổ vũ, tác động tới xã hội, tới độc giả.
Đó là đề tài Cuộc thi viết về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và viết về “Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn”. Bởi suy nghĩ ấy, mà chưa bao giờ anh ngừng đi, ngừng quan sát dù thành tích giải thưởng và kinh nghiệm của anh đã là một khối rubic lớn đủ để anh tự hào về một đời làm nghề của mình. Có một điều đặc biệt ở anh khiến mọi người nể trọng, hầu như tất cả tiền nhuận bút, tiền giải thưởng báo chí có được từ trước đến nay, anh đều dành cho công tác xã hội từ thiện.
Số tiền hoàn toàn không nhỏ so với một cá nhân, song mỗi lần đọc báo, nghe đài, cứ có mảnh đời thương tâm nào, là anh đồng hành cùng các tổ chức như: Quỹ Xã hội - từ thiện của báo Công an nhân dân; Quỹ Tấm lòng vàng của báo Lao động; Quỹ Thanh niên xung phong của Báo Tiền Phong đã kêu gọi. Hoặc cá nhân anh sẽ đến tận nơi trao tặng vật phẩm, tiền mặt để phần nào cứu giúp những hoàn cảnh khó khăn vượt qua bất hạnh như tặng mỳ tôm, tặng gạo, tặng chăn ấm cho đồng bào Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Thanh Hoá, Mù Căng Chải.
Anh đã có công phụng dưỡng hai Bà mẹ Việt
20 năm đồng hành với Hội Bảo trợ trẻ mồ côi và tàn tật TP Hà Nội, trung bình mỗi năm tặng Quỹ Khuyến học 20 triệu đồng hoặc 10 chiếc xe đạp cho các cháu đến trường. Nhân dịp kỷ niệm 55 Ngày Thương binh liệt sĩ, anh lại tặng nhà tình nghĩa (trị giá 20 triệu đồng cho thương binh Nguyễn Đức Hiệp (cụt chân mà vẫn đi cày) có con bị nhiễm chất độc hóa học màu da cam ở huyện Đông Anh…
Cũng bởi những nghĩa cử của mình, mà những ngày tháng sáu đầy ý nghĩa này, trên bàn làm việc của anh, ngày nào cũng có thư gửi tới bày tỏ lòng biết ơn của những người đã được anh đồng hành vượt qua gian khó. Nói về điều này, anh Phú tâm sự: “Bản thân tôi là một người đi lên từ con số không, cũng trải qua nhiều gian nan mới có được ngày hôm nay, tôi từng được nhận ở đời nhiều ân nghĩa, dù người ban ơn cho mình chẳng cần mình phải trả ơn, nhưng người hàm ơn bao giờ cũng không quên được những gì mình đã nhận. Tôi cũng chỉ là một hạt cát nhỏ giữa đại dương mênh mông, một chiếc lá trong rừng rộng, song giúp được một người vui là mình cũng cảm thấy lòng nhẹ nhõm”.
Nhắc lại những ngày gian khó, gương mặt của nhà báo Tiến Phú thoáng chút trầm tư. Dường như ký ức ngày thơ bé lại ùa về trong tâm hồn người đàn ông đã quá dạn dày sương gió, đi khắp bốn phương trời để có một ngày thành đạt như hôm nay. Anh không nói nhiều, mà thổ lộ cho tôi nghe bằng cách đọc một bài thơ tự sự đã viết dành riêng cho bốn cậu con trai của mình: “Ba phơi tuổi thơ trên những cánh đồng/ Bắt ốc, mò cua, quen từng ruộng lúa/ Tuổi thơ ba mấp mô trên những bờ vùng bờ thửa/ /Tìm những “mà” có ếch những “mà” có lươn/ Tuổi thơ ba là dọc dài những con mương/ Chỗ nào nước đục - dừng be bờ bắt cá/ Tuổi thơ của ba/ Là những đêm đẫm sương ngủ trên đồng canh rạ/ Đom đóm lập loè – màu sáng lân tinh/ Thấy bầu trời đêm sà xuống sát mặt mình/ Thức đến sáng, đợi cả nhà ra cắt rạ/ Tuổi thơ ba dọc, ngang những cánh đồng trồng thuốc lào, thuốc lá/ Kiễng chân lên hái những lá chín vàng/ Mỗi chiều về - nhựa thuốc khô từng tảng/ Đen sì từ đầu đến chân/ Tuổi thơ ba mờ sáng ra đồng hái bông/ Sương giăng đẫm trời, đẫm đất/ Những quả bông nở xoè trắng bóc/ Quần áo bà mua cho ba rặt mỗi một màu xanh/ Tuổi thơ ba dãi dầu khắp bến sông/ Đào củi, đãi hến, bắt cá/ Những lúc lũ về ba bơi ra giữa dòng sông Mã/ Quắp từng cây gỗ dìu vào bờ/ Tuổi thơ ba là đóng gạch - nung vôi/ Dệt chiếu, chóc quai, đan thảm/ Làm đủ thứ nghề - mà chẳng đủ ăn/ Bữa cơm thường sắn, khoai, ngô độn vài nhúm gạo/ Ba lớn lên bằng nước lọc không đun/ Ba thầm cảm ơn những tháng, năm gian khổ/ Rèn rũa ba nên Người/ Nếu không có tuổi thơ - cực nhọc/ Thì không có gia tài vĩ đại dành hết tặng các con…”