Tuy nhiên, chính những phẩm chất của một cán bộ tài chính thượng hạng đã giúp ông hoàn thành nhiệm vụ mới vì nếu không có sự sâu sát trong công tác tài chính, các chi phí quốc phòng sẽ bị tổn hại rất nhiều do nạn biển thủ.
- Phóng viên: Ngân sách chương trình vũ trang mới, hiển nhiên là đang ở trong giai đoạn sẵn sàng bậc cao, đòi hỏi hơn 19 nghìn tỉ rub (ở thời điểm giữa trưa ngày 5-10-2010, một USD "ăn" 30,435 rub - NTT). So với chương trình cũ thì con số này đã gia tăng gấp ba lần. Có lẽ là chúng ta đang phải đối mặt với những nguy cơ quân sự mới?
- BTQP Nga Serduykov: Không, hoàn toàn không phải thế. Chúng ta trong một giai đoạn dài đã không bỏ ra chi phí thêm đúng mức cho việc trang bị lại vũ khí. Để so sánh, cần biết: ngân sách quân sự của Mỹ là 719 tỉ USD, còn của chúng ta chỉ ở mức 50.
Những con số này cho thấy thế nào là thực sự chi phí nghiêm túc. Ngoài ra, trong giai đoạn khủng hoảng, chủ đề trang bị lại đã bị hoàn toàn cấm kỵ. Giờ thì dễ nói hơn. Và đã thông qua được quyết định gia tăng chi phí ở mức thực sự cần thiết để phát triển một cách có hiệu quả các lực lượng vũ trang.
Trong chương trình vũ khí khí tài có những ưu tiên - lực lượng kiềm chế hạt nhân, lực lượng vũ trụ, lực lượng phòng không, không quân, thông tin liên lạc. Và những chi phí này đều có luận chứng. Chương trình được dựa trên những tính toán nghiêm túc, với thống kê những nguy cơ, khả năng của nền công nghiệp, các điều kiện kinh tế. Trong đó có xác định các chỉ số của các loại vũ khí khí tài, giá thành của chúng. Trên cơ sở này hiện đang xác định những đề xuất về đơn đặt hàng quốc phòng trong giai đoạn 2011-2013.
- Trong học thuyết quốc phòng mới của nước Nga có xác định kẻ thù tiềm tàng của nước Nga là NATO. Liệu đó có phải một luận điểm đã lỗi thời hay không?
- Trong học thuyết không có khẳng định trực tiếp rằng NATO là đối thủ chính yếu. Nhưng chúng tôi lo ngại vì hiệp hội này đang mở rộng về phía nước Nga, tỏ ra quan tâm tới những khu vực ảnh hưởng truyền thống của chúng tôi. Tuy nhiên, nhìn tổng thế, học thuyết của chúng tôi mang nặng tính phòng thủ.
- Mới đây ông đã tới thăm Lầu Năm Góc. Trong kết quả của chuyến thăm này lần đầu tiên có nói tới việc mua vũ khí của Mỹ.
- Trong các cuộc gặp gỡ, chúng tôi đã nói về sự hợp tác quân sự giữa Nga và Mỹ. Đồng nghiệp của tôi (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates - NTT) quả thực là có nêu ra ý tưởng về khả năng hợp tác kỹ thuật. Mối quan tâm này ở nước Nga là có.
Thí dụ, chúng tôi đã đạt được thỏa thuận về việc trong thời gian gần nhất sẽ chuyển cho đối tác danh mục các công nghệ và sản phẩm cụ thể mà họ quan tâm. Cũng có những ý tưởng trong lĩnh vực vận tải hàng không. Đó là đề án chung - chế tạo máy bay vận tải hạng nặng trên cơ sở máy bay AN-124 của chúng tôi và máy bay C-5 của phía Mỹ. Nhưng những thứ đó là các câu chuyện tinh tế, cần được xử lý nghiêm túc.
- Và dù thế nào thì các ông cũng đã thảo luận cùng nhau về sự "khởi động lại"?
- Một phần là như thế. Cuộc gặp đã diễn ra trên một giai điệu tốt. Những sự kiện của tháng 8- 2008 (xung đột ở Abakhazia - NTT) đã làm hại nghiêm trọng quan hệ giữa hai nước. Nhưng giờ đây đã có thể nói tới chuyển động xích lại gần nhau.
- Cả về hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD)? Các kế hoạch hiện tại của nước Nga như thế nào?
- Tình hình hiện nay như sau. Đã thành lập được một nhóm công tác, để xem xét các đề nghị của chúng tôi và các đồng nghiệp Mỹ. Chúng tôi đã đưa ra đề nghị lập một hệ thống ba nấc thông qua các quyết định. Đầu tiên là các chuyên viên làm việc, rồi mang vấn đề lên mức các tham mưu trưởng. Tiếp theo, khi cần thiết thì đưa ra để các lãnh đạo quốc gia cân nhắc. Quyết định về Hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược (START) được thông qua như thế. Và thực tế này đã là thành công.
- Thế nước Nga nghiêng theo phương án nào? Về mặt công khai thì mới chỉ có đề nghị sử dụng trạm radar ở Gabala (
- Quả thực là đã có những đề nghị cùng sử dụng các trạm radar để thu thập thông tin về các vụ phóng tên lửa ở những khu vực khác nhau trên thế giới. Nhưng đó mới chỉ ở mức những đề nghị. Còn hiện nay mục tiêu chính của chúng tôi là xác định những nguy cơ có thể trở thành hiện thực. Chúng tôi đã trao những đánh giá của mình cho các chuyên gia Mỹ để họ xử lý. Bây giờ vẫn còn sớm để nói tới những bước tiếp theo.
- Ông vừa nhắc tới cuộc chiến tranh với Gruzia, việc ngoài những hệ lụy khác còn làm hỏng quan hệ với Mỹ. Rõ ràng là chính cuộc chiến đó đã thúc đẩy tiến hành cải tổ lực lượng vũ trang Nga?
- Cuộc xung đột quả thực đã đẩy nhanh hơn tiến trình này. Nó giúp nhận thức rõ hơn về nhu cầu cấp thiết phải thay đổi tổ chức. Chúng tôi cố gắng không sử dụng từ "cải tổ". Chúng tôi xây dựng một gương mặt mới cho quân đội. Chúng tôi đã làm được một khối lượng công việc khổng lồ.
Chúng tôi đã nghiên cứu kinh nghiệm của các nước khác - như Israel, Mỹ, Đức, Pháp, Italia - để xây dựng mô hình riêng của mình, phù hợp với những khả năng địa chính trị và kinh tế. Nhưng mọi sự đã phải bắt đầu từ những việc căn bản. Chúng tôi đã đánh giá lại tỉ lệ giữa đội ngũ sĩ quan với binh lính. Hóa ra tỉ lệ đó là 50-50. Tức là cứ một sĩ quan thì có một người lính.
Khi chúng tôi bắt tay vào phân tích, những sĩ quan đó là những ai thì mới thấy rằng, đó toàn là sĩ quan cao cấp, quân hàm không dưới cấp trung tá. Và trong số này thì đại đa số lại không hề có không chỉ kinh nghiệm chiến đấu mà cả kinh nghiệm chỉ huy trực tiếp cấp tiểu đoàn và trung đoàn. Liệu có cần tới từng ấy sĩ quan không? Và chúng tôi đã đi tới kết luận rằng tỉ lệ như trên là quá đáng. Trong quân đội của nhiều nước châu Âu, tỉ lệ sĩ quan chỉ chiếm từ 9 tới 16%.
Tất nhiên, những quân đội đó được xây dựng theo kiểu khác. Chúng tôi thì còn có cả lực lượng vũ trụ, tên lửa, lực lượng hạt nhân chiến lược. Trong những đơn vị này tỉ lệ sĩ quan cao hơn bình thường rất nhiều. Và đó là thứ cần thiết. Những tính toán đã được tiến hành cho thấy, tỉ lệ sĩ quan phải ở trong mức 15% so với tổng quân số. Đó cũng là tỉ lệ thường thấy trong những quân đội lớn trên thế giới.
- Thế ông đã rút ra được bài học gì trong chuyện khả năng tác chiến của quân đội Nga sau cuộc chiến tranh đó?
- Kết luận là cần phải ngay lập tức và kiên quyết tiến hành các thay đổi cần thiết. Cuộc xung đột đó cho thấy, quân đội cấp thiết cần một hệ thống chỉ huy hiện đại và vũ khí khí tài mới. Và cần phải thay đổi toàn bộ hệ thống đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính.
- Mới đây Tổng thống đã ký sắc lệnh "Về sự phân chia hành chính quân sự của LB Nga". Điều đó có nghĩa là cải cách hành chính trong quân đội đã được bắt đầu. Ông có thể giải thích, cơ cấu mới tốt hơn cơ cấu cũ như thế nào không?
- Trong những thập niên gần đây tính chất của chiến tranh đã thay đổi. Khu vực chiến sự bây giờ không phải là một phần lãnh thổ mà là cả đất nước. Điều này làm thay đổi những yêu cầu đối với các nhóm quân. Nó phải linh hoạt, mềm dẻo, có khả năng cơ động cao.
Và cơ cấu 6 quân khu trước đây không đảm bảo được hoàn toàn việc bảo vệ vững chắc biên giới của tổ quốc. Cách chia hành chính quân sự đã không còn đáp trả được những nguy cơ quân sự hiện hữu. Những đơn vị cần thiết để giáng trả quân xâm lược đã bị chia lẻ ra theo các quân khu. Ngoài ra, tại các hướng chiến lược, chúng ta đã không có những cơ quan chỉ huy có thể liên kết những nỗ lực của các lực lượng lục quân, không quân và hải quân.
Và cuối cùng là, ranh giới các quân khu đã không thích ứng với ranh giới các khu vực phòng không. Với sự thành lập các quân khu mới, những vấn đề trên sẽ được giải quyết. Giờ đây tất cả các lực lượng quân sự đóng trên một quân khu đều phục tùng một vị Tư lệnh duy nhất. Và vị Tư lệnh sẽ chịu trách nhiệm cá nhân về an ninh trong vùng.
- Quay trở lại với chuyện vũ khí khí tài. Có cảm giác như Bộ Quốc phòng lúc nào cũng phải "ứng xử" giữa nhập khẩu và hỗ trợ cho các nhà sản xuất nội địa. Và các mâu thuẫn giữa ông với các liên doanh tàu biển và hàng không đã hiện hình rõ tới mức mắt thường cũng thấy được. Ông chống lại những con tàu và máy bay nội địa?
- Trong trường hợp này, chúng tôi hành xử như những người tiêu dùng. Những người sử dụng loại vũ khí mà các liên doanh công nghiệp cung cấp. Tồn tại những yêu cầu ở trong cơ sở những chỉ số mà chúng tôi đưa ra - những tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm của họ.
Vấn đề là ở chỗ, những yêu cầu đối với các sản phẩm quốc phòng cũng tồn tại ở những người phản biện chúng tôi. Và chúng tôi phải tuân thủ những con số đó. Nền công nghiệp quốc phòng nội địa của chúng ta rất hay không đáp ứng được những chỉ số cần có. Chúng tôi đã nói điều này với các công ty nội. Nếu không tự làm được thì đến hỏi họ.
Cũng vì lý do đó đã nảy sinh vấn đề trong việc mua tàu Mistral. Nền công nghiệp quốc phòng Nga không đáp ứng được cho chúng tôi những chỉ số cần thiết. Vì thế chúng tôi buộc phải nói tới sự sẵn sàng mua những con tàu ngoại. Các xí nghiệp của chúng ta đang sản xuất những mẫu mã cũ. Chúng tôi không muốn mua chúng. Nhưng việc này thậm chí không phải là mâu thuẫn mà chỉ là tình huống công tác.
- Đại đa số các Thứ trưởng làm việc dưới quyền ông là các nhân vật dân sự. Ngay cả chỉ nhìn từ bên ngoài thì ở Bộ Quốc phòng vẫn có ranh giới giữa những người mang quân phục và những người không mang quân phục. Họ làm việc với nhau như thế nào?
- Không có sự đối đầu nào giữa những quân nhân và các cán bộ dân sự. Người làm pháo binh không nên dính tới những cuộc kiểm tra tài chính, còn người làm tài chính thì không được can dự vào các cuộc tập trận. Nói chung, hiện nay ở chỗ chúng tôi là một tập thể không tồi. Mọi người giúp đỡ lẫn nhau. Cùng làm việc theo tinh thần hướng tới kết quả cuối cùng.
- Kết quả cuối cùng ấy là thế nào? Ông định đạt được điều gì?
- Một quân đội, như một đồng nghiệp của tôi tổng kết, có sức chiến đấu cao, hiện đại, "thông thái". Quân đội - đó là một chi phí khá nghiêm trọng đối với quốc gia. Lẽ ra có thể dùng tiền vào những mục tiêu nhân văn hơn, nếu có thể diễn giải như thế. Vì thế quân đội cần phải chứng minh những chi phí dành cho mình là có hiệu quả. Chúng tôi đang định xây dựng hệ thống điều hành hai nấc. Phân chia hoạt động của nó thành phần quân sự và phần liên quan tới đảm bảo hậu cần. Còn một nhiệm vụ nữa - xây dựng hệ thống kiểm tra tài chính.
- Có chuyện biển thủ?
- Khi tôi tới làm việc ở Bộ Quốc phòng, thì nói một cách thẳng thắn là tôi đã kinh ngạc lắm vì mức độ biển thủ ở đây. Cảm giác ấy cho tới nay vẫn còn nguyên. Một sự tắc trách về tài chính, sự điếc không sợ súng của những người chưa bao giờ bị kiểm tra.
Tệ nhất là hệ thống như thế đã thâm căn cố đế tới mức đã trở thành nếp nghĩ. Chúng tôi đang triển khai một hệ thống kiểm tra có hiệu quả. Tôi chưa dám nói là đã triệt được tận gốc vấn đề này. Nhưng đã có những kết quả, có thể thấy được rất rõ