Những năm gần đây, mô hình sản xuất lúa - tôm đã và đang trở thành hướng đi hiệu quả, giữ vai trò mũi nhọn trong phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Cà Mau. Không chỉ giúp khai thác hợp lý điều kiện sinh thái đặc thù vùng nước lợ, mô hình này còn mang lại nguồn thu nhập ổn định, góp phần nâng cao đời sống người dân và thúc đẩy chuyển đổi sản xuất theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Mô hình sản xuất lúa - tôm đã giữ vai trò mũi nhọn trong phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Cà Mau.
Đối với Cà Mau, lúa - tôm không chỉ là một mô hình sản xuất, mà là một phương thức phát triển nông nghiệp thuận thiên, kết tinh từ lợi thế mặn - lợ - ngọt, là giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu và tạo sinh kế bền vững cho nông dân vùng ven biển.
Sau hợp nhất, tỉnh Cà Mau mới có không gian phát triển nông nghiệp rộng lớn hơn, trong đó cây lúa và con tôm tiếp tục giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo đảm sinh kế và ổn định đời sống nông hộ. Toàn tỉnh có gần 315.000 ha gieo trồng lúa, trong đó diện tích lúa trên đất tôm gần 90.000 ha. Đây là vùng sản xuất có giá trị đặc thù, phản ánh rõ bản sắc nông nghiệp sinh thái của Cà Mau. Qua hơn 25 năm hình thành và phát triển, lúa - tôm đã chứng minh hiệu quả trên cả ba phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường.
Về kinh tế, mô hình giúp người dân đa dạng hóa sản xuất, giảm rủi ro so với độc canh, tận dụng được cả mùa mặn để nuôi tôm và mùa ngọt để trồng lúa. Giá thành sản xuất lúa khoảng 3.500 - 4.200 đồng/kg, lợi nhuận đạt khoảng 35 - 40 triệu đồng/ha, tỷ suất lợi nhuận khoảng 50 - 55%. Về xã hội, mô hình tạo việc làm, ổn định thu nhập, giữ chân nông dân gắn bó với đồng ruộng, ao đầm. Về môi trường, đây là mô hình sản xuất tuần hoàn, ít sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, góp phần bảo vệ đất, nước và hệ sinh thái tự nhiên.
Cà Mau luôn xác định lúa - tôm là hướng sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái vùng mặn - lợ - ngọt.
Điểm đặc biệt của mô hình sản xuất lúa - tôm là không đi ngược lại tự nhiên, mà dựa vào tự nhiên để phát triển. Chất thải từ nuôi tôm trở thành nguồn dinh dưỡng cho cây lúa; rơm rạ, gốc rạ sau vụ lúa lại góp phần cải tạo môi trường ao nuôi tôm. Chu trình đó tạo nên một hệ sinh thái sản xuất khép kín, hài hòa, phù hợp với điều kiện của tỉnh Cà Mau - địa phương có ba mặt giáp biển, chịu tác động trực tiếp của xâm nhập mặn, sạt lở, sụt lún và biến đổi khí hậu. Có thể khẳng định, mô hình lúa - tôm là một trong những hướng đi tiêu biểu của ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau: thuận thiên, hiệu quả, bền vững và có khả năng tạo dựng thương hiệu riêng trên thị trường.
Thời gian qua, tỉnh Cà Mau luôn xác định lúa - tôm là hướng sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái vùng mặn - lợ - ngọt, đồng thời là một không gian quan trọng để tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn và có giá trị cao hơn.
Nhờ sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, sự vào cuộc của các sở, ngành, địa phương và sự chủ động của người dân, diện tích lúa - tôm tỉnh Cà Mau đã tăng từ 77.000 ha năm 2020 lên khoảng 88.000 ha năm 2025; năng suất lúa bình quân đạt khoảng 5,1 tấn/ha, tăng gần 26% so với năm 2020. Đây là kết quả rất đáng ghi nhận, cho thấy mô hình ngày càng phát huy hiệu quả, sản phẩm tôm, lúa được thị trường chấp nhận và phù hợp với định hướng phát triển bền vững của tỉnh.
Bên cạnh mô hình tôm-lúa còn có mô hình nuôi tôm công nghệ cao ở Cà Mau.
Để có được những thành quả trên, tỉnh đã triển khai nhiều nhóm giải pháp đồng bộ.
Thứ nhất là quan tâm đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, nhất là thủy lợi, giao thông, điện, hệ thống cấp thoát nước, quản lý mặn, ngọt theo mùa.
Thứ hai, tỉnh lồng ghép các nguồn lực từ ngân sách, khuyến nông, xây dựng nông thôn mới, phát triển nông nghiệp bền vững, hỗ trợ đất lúa và các chương trình, đề án khác để giúp người dân cải thiện điều kiện sản xuất.
Thứ ba, tổ chức lại sản xuất, trong đó, tỉnh khuyến khích nông dân tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã, liên kết với doanh nghiệp để hình thành vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất theo quy trình thống nhất, có hợp đồng tiêu thụ, có truy xuất nguồn gốc và từng bước đạt các tiêu chuẩn chất lượng. Đây là hướng đi căn cơ để khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, nâng cao năng lực đàm phán của nông dân và ổn định đầu ra sản phẩm.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ, sinh thái, phát thải thấp; sử dụng các giống lúa chất lượng cao như ST24, ST25, BL9, OM18, Đài Thơm 8; sử dụng giống tôm sạch bệnh, kiểm soát môi trường nuôi, hạn chế hóa chất, giảm chi phí đầu vào và nâng giá trị sản phẩm.
Thứ năm, xác định chuyển đổi số là một trong những giải pháp trọng tâm, theo đó, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu vùng sản xuất lúa - tôm, quản lý mã số vùng trồng, mã số vùng nuôi, áp dụng nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo môi trường, cảnh báo mặn - ngọt và kết nối thông tin thị trường. Khi vùng nguyên liệu được quản trị bằng dữ liệu, sản phẩm sẽ minh bạch hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của doanh nghiệp, người tiêu dùng và thị trường xuất khẩu.
Một nhà máy chế biến tôm xuất khẩu ở Cà Mau.
Mục tiêu của tỉnh không chỉ là mở rộng diện tích lúa - tôm, mà quan trọng hơn là nâng chất lượng, chuẩn hóa quy trình, tổ chức lại sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và phát triển chuỗi giá trị bền vững, qua đó, nâng cao giá trị sản phẩm (tôm, lúa), giúp nông dân ổn định sinh kế và nâng cao thu nhập bền vững. Tỉnh Cà Mau xác định thương hiệu “Lúa thơm - tôm sạch” không chỉ là tên gọi của một sản phẩm, mà là nhận diện của một nền nông nghiệp xanh, sạch, thuận thiên và có trách nhiệm.
Thông điệp tỉnh hướng tới là: “Lúa thơm - tôm sạch: thuận thiên, an toàn, trách nhiệm, bền vững”. Thuận thiên là sản xuất phù hợp với quy luật mặn - ngọt theo mùa, không cưỡng lại tự nhiên. An toàn là sản phẩm được kiểm soát từ giống, quy trình sản xuất, môi trường đến thu hoạch, chế biến. Trách nhiệm là trách nhiệm với người tiêu dùng, với môi trường, với cộng đồng và với tương lai phát triển của địa phương. Bền vững là bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định sinh kế và bảo vệ hệ sinh thái.
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp hàng hóa, tỉnh sẽ tập trung xây dựng vùng sản xuất lúa - tôm theo hướng hữu cơ, sinh thái, phát thải thấp; ưu tiên các giống lúa thơm, chất lượng cao, đặc sản địa phương; kết hợp quy trình nuôi tôm sạch, hạn chế hóa chất, đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, tỉnh xác định phát triển thương hiệu phải đi cùng tổ chức lại sản xuất; trong đó, nông dân là chủ thể sản xuất; hợp tác xã là nền tảng để tập hợp nông dân, chuẩn hóa quy trình, quản lý chất lượng; doanh nghiệp là đầu kéo về chế biến, thị trường và thương hiệu; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo hạ tầng, cơ chế, tiêu chuẩn và môi trường liên kết.
Nếu thiếu một trong các chủ thể này, thương hiệu khó có thể đi xa và đứng vững. Bên cạnh đó, tỉnh từng bước xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, mã số vùng nuôi, chứng nhận VietGAP, ASC, Organic và các tiêu chuẩn phù hợp. Đây là điều kiện quan trọng để sản phẩm “Lúa thơm - tôm sạch” không chỉ tiêu thụ trong nước, mà còn tiếp cận các thị trường cao cấp, nơi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sản phẩm xanh, an toàn, minh bạch và có trách nhiệm với môi trường.
Việc Cà Mau tổ chức thành công Cuộc thi Gạo ngon Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lần thứ I năm 2026 cũng là cơ hội quan trọng để quảng bá tiềm năng, lợi thế và khẳng định vai trò của tỉnh trong định hướng phát triển ngành lúa gạo vùng ĐBSCL theo hướng chất lượng cao, phát thải thấp và bền vững. Về lâu dài, thương hiệu “Lúa thơm - tôm sạch” cần được phát triển thành thương hiệu nông sản xanh tiêu biểu của Cà Mau, gắn với du lịch sinh thái, văn hóa nông nghiệp, xúc tiến thương mại, chế biến sâu và xuất khẩu. Đây chính là cách để nâng giá trị hạt lúa, con tôm và nâng vị thế nông nghiệp Cà Mau trên thị trường.
Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL giai đoạn 2026 – 2035 là định hướng rất quan trọng đối với Cà Mau. Đây không chỉ là yêu cầu về phòng, chống thiên tai, mà còn đặt ra nhiệm vụ tổ chức lại không gian phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên mới. Đối với Cà Mau, biến đổi khí hậu là thách thức hiện hữu. Sạt lở, sụt lún, hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt, thời tiết cực đoan đang tác động trực tiếp đến sản xuất và đời sống người dân. Trong bối cảnh đó, lúa - tôm là một trong những mô hình thích ứng có giá trị thực tiễn rất cao, bởi mô hình này dựa vào quy luật mặn - ngọt, sử dụng tài nguyên nước linh hoạt, giảm áp lực hóa chất và bảo vệ hệ sinh thái.
Thời gian tới, tỉnh sẽ điều chỉnh phát triển lúa - tôm theo hướng không mở rộng bằng mọi giá, mà phát triển theo quy hoạch vùng, phù hợp điều kiện sinh thái. Trọng tâm là tổ chức lại không gian sản xuất vùng mặn - lợ - ngọt, xác định rõ vùng chuyên lúa, vùng lúa - tôm, vùng nuôi thủy sản, vùng rừng - tôm, vùng cần bảo vệ nghiêm ngặt về sinh thái, từ đó đầu tư hạ tầng và hướng dẫn sản xuất phù hợp; ưu tiên các công trình thủy lợi đa mục tiêu, liên vùng, vừa kiểm soát mặn, vừa trữ ngọt, vừa tiêu úng, vừa phục vụ sản xuất, dân sinh và thích ứng biến đổi khí hậu.
Cùng với giải pháp công trình, tỉnh đặc biệt coi trọng giải pháp phi công trình, nhất là dự báo, cảnh báo, chuyển đổi mùa vụ, chuyển đổi giống, quy trình canh tác tiết kiệm nước, phát thải thấp; xây dựng vùng nguyên liệu lúa - tôm đạt chuẩn, có mã số, có chứng nhận, có truy xuất nguồn gốc, có liên kết tiêu thụ ổn định và nâng cao năng lực cộng đồng.
Đây là cách để biến thách thức khí hậu thành động lực đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp, chuyển từ sản xuất theo kinh nghiệm sang sản xuất theo quy trình, theo dữ liệu, theo tiêu chuẩn và theo nhu cầu thị trường. Nói cách khác, Cà Mau không xem lúa - tôm chỉ là giải pháp thích ứng bị động, mà xem đây là một hướng phát triển chủ động, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, nông thôn hiện đại và nông dân có thu nhập ổn định hơn. Thời gian tới, tỉnh Cà Mau sẽ phát triển lúa - tôm theo quan điểm: không chạy theo mở rộng diện tích đơn thuần, mà tập trung nâng chất lượng, chuẩn hóa quy trình, tổ chức lại sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, liên kết chuỗi giá trị và phát triển thương hiệu xanh.
Tỉnh xác định một số định hướng, giải pháp trọng tâm cụ thể như sau: Trước hết, tổ chức lại không gian sản xuất vùng mặn - lợ - ngọt. Mô hình lúa - tôm sẽ được phát triển ở những nơi có điều kiện sinh thái phù hợp, gắn với quy hoạch thủy lợi, giao thông, điện, hạ tầng số và khả năng liên kết thị trường. Phát triển đúng vùng sẽ giúp giảm rủi ro, nâng hiệu quả sử dụng đất, nước và bảo đảm sản xuất bền vững.
Thứ hai, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tập trung, có mã số vùng trồng, mã số vùng nuôi, có quy trình kỹ thuật thống nhất, có chứng nhận chất lượng, có truy xuất nguồn gốc và gắn với chế biến, tiêu thụ. Đây là nền tảng để sản phẩm Cà Mau đi vào hệ thống phân phối hiện đại và thị trường xuất khẩu.
Thứ ba, đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể, nhất là hợp tác xã, hoạt động theo hướng chuyên nghiệp, có đầy đủ kỹ năng, năng lực quản trị, quản lý chất lượng, đàm phán hợp đồng, ứng dụng công nghệ, số hóa quy trình quản lý và kết nối doanh nghiệp. Trong đó, ưu tiên củng cố hợp tác xã hiện có, thành lập mới ở những nơi đủ điều kiện, xây dựng hợp tác xã kiểu mới gắn với vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị.
Thứ tư là thu hút doanh nghiệp tham gia chế biến và tiêu thụ để nâng giá trị sản phẩm lúa, tôm. Trong đó, tỉnh ưu tiên, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia cung ứng giống, vật tư, chuyển giao kỹ thuật, ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Tỉnh xác định, liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp phải trở thành trục chính trong phát triển lúa - tôm thời gian tới.
Thứ năm là đẩy mạnh khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Tỉnh sẽ phối hợp với các viện, trường, doanh nghiệp để nghiên cứu, chọn tạo, phục tráng các giống lúa thơm, chất lượng cao, chịu mặn, chịu phèn, kháng sâu bệnh; sử dụng giống tôm sạch bệnh, chất lượng tốt, phù hợp điều kiện sinh thái. Đồng thời, từng bước áp dụng nhật ký điện tử, bản đồ số vùng sản xuất, hệ thống quan trắc môi trường, cảnh báo mặn - ngọt, truy xuất nguồn gốc và kết nối cung cầu trên nền tảng số. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong truy xuất nguồn gốc giúp quản lý quy trình sản xuất một cách minh bạch, hiệu quả và đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong bối cảnh mới.
Thứ sáu là xây dựng thương hiệu nông sản xanh Cà Mau, trọng tâm là phát triển thương hiệu “Lúa thơm - tôm sạch: thuận thiên, an toàn, trách nhiệm, bền vững”, gắn với các chứng nhận chất lượng, câu chuyện vùng đất, văn hóa nông nghiệp, du lịch sinh thái và xúc tiến thương mại. Cà Mau sẽ tiếp tục quảng bá các giống gạo ngon, trong đó có gạo BL9 và các giống lúa thơm chất lượng cao; đồng thời phát triển hình ảnh con tôm sạch, sinh thái, trách nhiệm.
Có thể khẳng định, Cà Mau đặt mục tiêu cuối cùng là đưa lúa - tôm trở thành không gian phát triển nông nghiệp sinh thái đặc sắc của tỉnh, nơi người nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn cao hơn, hợp tác xã hoạt động hiệu quả hơn, doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ hơn, sản phẩm có thương hiệu mạnh hơn và đóng góp tích cực hơn vào mục tiêu tăng trưởng GRDP khu vực I theo hướng chất lượng, xanh và bền vững.