Sư trụ trì Chùa Hạ đã ngoài bảy mươi nhưng từng bước đi của cụ vẫn khoan thai nhẹ nhàng. Lúc giảng giải Phật pháp hoặc khi giao đãi với mọi người cụ còn thông tuệ lắm. Đã thành cái lệ, sáng sáng đi xong bài thái cực quyền, làm một bát nước vối nóng, sư cụ mới lên thỉnh chuông. Tiếng chuông vọng tới cõi sắc không dứt hẳn, sư cụ mới vào xếp bằng trước điện Tam Bảo tĩnh tại thiền ba mươi phút, sau đó người bắt đầu gõ mõ tụng kinh. Các sư bác cùng chú tiểu cũng muốn được như cụ nhưng không theo nổi. Trong số ấy cụ nhận thấy sư bác Phượng là người chịu rèn luyện nhất. Phượng đã ít nói lại chăm chỉ. Ngoài sự cần mẫn trong công việc hàng ngày của nhà chùa, Phượng còn chịu khó học chữ nho, đọc nhuần nhuyễn các cuốn kinh thư. Từ ngày nhận lễ xuống tóc đã gần hai mươi năm, chưa một lần Phượng làm cụ phật ý.
Vị sư trụ trì Chùa Hạ thầm thương cảm Phượng từ ngày đầu nàng mới xin vào nương bóng cửa thiền. Hoàn cảnh buộc Phượng trốn khỏi nhà gần giống câu chuyện thuở cụ là một thiếu nữ. Nhưng căn số nặng đường tu nhẹ đường tình, nên Phật đã độ cho cụ được an nghiệp tu từ bấy đến giờ. Ngược lại Phượng chuyên tâm với bổn phận tu hành là vậy, nhưng sư cụ biết cái số của người con gái này vẫn khó thoát tục nổi.
Tụng xong bản kinh Kim Cương, sư trụ trì nhắn Phượng lên phòng mình.
- Cụ gọi con ạ.
- Ừ. Bác phơi được bao nhiêu hoa đại và lá sen rồi?
- Trình cụ, khoảng một cân hoa đại, sáu cân lá sen ạ.
- Đã khô chưa?
- Dạ khô rồi ạ.
- Chiều nay bác với tiểu Xoan chia đều lá sen và hoa đại ra nhiều gói để làm phúc cho những người đã đến nhờ nhà chùa nhé. Đây là những vị thuốc trị bệnh mỡ máu. Địa chỉ trong danh sách này, bác và tiểu đi sớm về cho kịp khóa tụng kinh tối.
- Thưa cụ vâng ạ.
Hoàng hôn chưa nhạt hẳn, sư bác Phượng cùng tiểu Xoan đã xong việc. Để Xoan dắt xe xuống nhà kho, Phượng lên xin phép cụ nghỉ buổi tụng kinh sám nguyện. Thấy lạ, sư cụ hỏi tiểu Xoan.
- Tiểu nói thật cho ta nghe, có ai than phiền quở trách gì không?
- Thưa cụ không ạ.
- Thế tại sao bác Phượng lại ngã hồn ra vậy chứ.
- Lạy Phật xá lỗi, lúc về qua phố ga, nghe tiếng người đàn ông hát dạo. Đang đi nhanh bất chợt bác Phượng phanh gấp, quay xe vòng lại. Chúng con cùng nghển cổ qua đám đông, bỗng nhiên con thấy mặt bác Phượng tái đi, tay bác ấy run đến nỗi không cầm nổi lái. Lo có bề gì chẳng lành, con phải chở bác ấy về ngay. Con chắc sư bác bị cảm gió nên đã làm bát nước gừng đây ạ.
- Con đi làm việc đi, để bát nước gừng đấy cho ta.
Cụ nhớ lại, có lần Phượng thổ lộ: "Con nghe nói sau khi bị mù anh ấy bỏ làng đi hát rong. Con những muốn đi tìm…nhưng biết đâu anh ấy đã có vợ… Hơn nữa, con là người tu hành, làm vậy gánh tội bao giờ cho cạn".
Sư cụ đã ăn liên tục mấy miếng trầu, trong người nóng ran như vừa uống rượu mạnh, thế mà vẫn không đứng dậy để vào phòng Phượng nổi. Vị sư trụ trì biết cái điều bà không muốn trước sau nó cũng sẽ đến. Nấn ná mãi cụ mới đi tới khẽ mở cánh cửa phòng Phượng, nhìn nàng nằm sấp xuống gối, nỗi xót xa lại ùa về, làm cho đôi mắt đã lánh bụi trần gần năm mươi năm bỗng nhiên rưng rưng trước người con gái đã nhỡ hết xuân thì. Nó như hiện thân của bà ngày xưa vậy.
- Phượng à. Ta đã thấu nỗi khổ trong tâm con, hãy ngồi dậy ta có chuyện muốn hỏi con đây.
- Dạ.
Phượng sửa lại áo quần cho đỡ nhàu. Nàng ngồi ngay ngắn trước vị sư trụ trì đã cưu mang mình bấy lâu.
- Hôm nay con thấy "người ấy".
- Thưa cụ vâng.
- Con có muốn về với đời?
- Thời gian chúng con bặt tin nhau quá dài, biết đâu anh ấy đã yên bề gia thất. Con xin cụ để mọi sự qua đi ạ.
- Nam mô Phật. Hỏi thế thôi, chứ ta đã biết số con không có căn tu, không cố được đâu. Ta sẽ nhờ người dò hỏi, anh ấy chưa có vợ, chùa sẽ làm lễ hoàn tục cho con.
- Trình cụ, ban đầu con chỉ tính lánh đời để đợi để chờ, nhưng rồi con biết con có trở lại thì mãi mãi bố và anh con cũng không chấp nhận con và người ấy. Vì thế con nguyện suốt đời nương thân cửa Phật.
- Đâu phải xuống tóc mới là tu..
Người đàn ông có nước da đen xạm, làm những nếp nhăn trên khuôn mặt cương trực càng trầm buồn hơn. Ai mới gặp anh cũng khó đoán tuổi. Thoáng chỉ như ngoài bốn mươi, thoáng lại như người đã già. Nếu nhìn tận dưới cặp kính đen mới biết hai mắt anh mù thật chứ không giả mù như nhiều người đã nói. Nhìn người đàn ông mù vai đeo chiếc túi vải thô, đôi tay sẹo loang lổ ôm cây ghi ta ngất ngưởng hát trước thiên hạ, các cụ già chơi cây cảnh lại liên tưởng anh như một cây thế bị đời uốn vụng.
Với chất giọng truyền cảm, âm vực sâu rộng trong sáng, ai đã nghe không thể không muốn nghe lại. Có người nói chân tình: "Ông hát như một nghệ sĩ đích thực". Người đàn ông mù cười chua chát : "Cảm ơn bác đã thương mến mà hào phóng lời nhận xét, tôi chỉ là kẻ ngả giọng hát để ăn mày cơm thiên hạ thôi".
Người đàn ông mù đến dựng lều trên bãi rác thải này từ đầu những năm 90 của thế kỉ trước. Anh là lớp cư dân đầu tiên. Mấy năm sau, người người kéo đến đông dần. Chẳng ai biết ai từ đâu tới. Bãi rác thải trở thành xóm liều, cũng đường ngang ngõ dọc, cũng tấp nập hàng quán buôn bán các loại, lều nối lều nhà nối nhà.
*
Đã cuối đông, ngoài trời gió mỗi lúc một mạnh, người hát rong nghe rõ tiếng lá khô từ cây bàng trước nhà rụng xuống lăn ràn rạt trên mặt ngõ mới láng bê tông. Hôm nay gió lại cuốn tâm tưởng Mạnh về với những vui buồn khó quên trong cuộc đời mình. Từng mảnh kí ức lúc vỡ vụn, lúc kết lại thành hình khối, lần lượt hiện dần lên trước anh.
... Sau khi đoạt giải A trong cuộc thi hát của tỉnh, Mạnh thành thần tượng của nhiều cô gái trên tỉnh, nhưng anh chỉ đắm say mỗi cô bạn cùng học với mình từ cấp một. Nàng là con út của ông chủ xưởng chế biến gỗ nổi tiếng cả vùng, đồng thời là cháu gọi Chủ tịch xã bằng chú ruột. Phượng không đẹp lồ lộ như các cô gái trên tỉnh, nhưng ở nàng lại toát lên những nét dung dị, thuần khiết. Sự thuần khiết ấy có sức hút kì lạ đối với đám trẻ trai.
Sau này ngẫm lại, Mạnh thấy đúng như mẹ anh đã nói. Mọi sự không phải bắt đầu từ cái đêm anh với Phượng gặp nhau ở bên ao đình. Đêm ấy trăng sáng lắm, sáng đến nỗi anh nhìn thấy rõ cả nốt ruồi nhỏ xíu ở dưới bờ môi của nàng. Anh nói trong hơi thở của người yêu:
- Em có đồng ý cho anh sang thưa với bên nhà chuyện của chúng mình không?
- Nhưng chú em cùng cả nhà đang muốn thông gia với ông Bí thư huyện, họ sẽ làm khó anh thôi.
- Em thì sao?
- Anh lại còn hỏi.
Bất chợt bầu trời cuồn cuộn mây đen che lấp hết vầng trăng, bốn bề lồng lộng gió, lá đa khô rụng lả tả xuống sân đình. Hai người không nghe rõ tiếng những bước chân đang tiến về phía mình. Tiếng anh cả của Phượng quát lạc cả giọng trong gió:
- Mày dám hẹn em gái tao ra đây để giở trò chim chuột hả?
- Dạ, em không dám.
Người anh thứ hai của Phượng bước lại gần hơn, từng lời rít qua kẽ răng:
- Đồ con hoang, mày nghĩ mày là ai mà dám mơ tới cái Phượng nhà tao.
- Tôi và Phượng yêu nhau.
- Ái chà…yêu nhau này...
Cứ thế hai anh của nàng, người túm ngực kẻ kéo tay đấm đá túi bụi vào mặt, vào bụng Mạnh cho đến lúc Phượng gào lên kêu cứu họ mới thôi. Mạnh chỉ mơ hồ thấy nàng bị hai người anh lôi đi. Gần nửa đêm Mạnh mới bò được về đến nhà. Vừa cầm bọc muối rang ngải cứu tẩm rượu day lên những vết thương cho con, mẹ anh vừa sụt sịt từng tiếng:
- Bên nhà chúng vừa đánh tiếng đến tai mẹ rằng, nếu con còn gặp cái Phượng, chúng sẽ đánh con què hẳn. Mẹ biết, việc con yêu em gái chúng chỉ là phụ. Chúng thù từ cái đận con làm đơn giúp nông dân thôn Diệc ra Trung ương kiện vụ mập mờ tiền và đất đền bù cho dân ở cánh Đồng Vẽ. Chúng cho rằng con đã xúi giục mọi người không cho doanh nghiệp san lấp mặt bằng. Ai cũng biết chú cháu nhà nó ăn bẫm hết dự án nọ đến dự án kia, nhưng có ai dám lên tiếng. Đáng nhẽ con phải tránh đi, đằng này lại xăng xái nên chuyện làm rể nhà ấy chắc khó xuôi rồi. Thôi, nếu được đi học thì cứ đi, ở nhà mẹ tìm cho đám khác chẳng kém gì cái Phượng, lại con nhà lành.
- Con chỉ yêu cô ấy thôi.
- Nhà nó khá giả, nhưng sống bất nhân lắm. Mẹ cái Phượng là bạn gái của mẹ đấy. Cô ấy bị cưỡng bức, buộc phải về làm lẽ cho ông ta. Bà vợ cả cùng lũ con hành mẹ nó cho đến lúc chết. Cả làng chẳng ai muốn dây vào, nên hai thằng anh nó có lấy được vợ làng đâu…
*
… Mấy ngày sau cái đêm bị hai anh của Phượng đánh, Mạnh lên Ủy ban xin xác nhận hồ sơ để gửi đi cho kịp hạn. Chủ tịch có khuôn mặt cân đối, chỉ riêng mỗi khi cười cái miệng của ông cứ lệch về một phía. Chủ tịch lúc nào cũng tỏ ra niềm nở và cố thể hiện ân tình với người đối diện, nhưng đố ai biết ông đang nghĩ gì.
- Cháu chào chú ạ.
- Mạnh hả, vào đây.
Chủ tịch đặt chén nước trà trước Mạnh. Bằng giọng như thân thiện, ông miết từng lời với Mạnh:
- Xã nhà có một thanh niên đầy nhiệt huyết lại tài năng như cháu thật quý, quý lắm đấy, nhưng cháu lại chưa thực hiện nghĩa vụ quân sự. Lần trước xã hoãn cho cháu vì mẹ ốm không ai săn sóc, nay bà khỏe rồi không còn lý do gì để cháu hoãn được nữa. Chú nghĩ tài năng vẫn ở trong con người cháu, không ai lấy đi mất. Sau hai năm hoàn thành nghĩa vụ, lúc ấy thi vẫn chưa muộn. Còn một việc nữa chú cũng muốn lưu ý để cháu biết: Cái Phượng nhà chú đã có nơi có chốn, cháu đừng theo đuổi nó nữa nhé.
*
Bây giờ, mỗi khi nhớ đến chuyện cũ anh lại xót về mẹ, lại không quên hai lần bà thả hai đứa con ra khỏi vòng tay mình. Lúc tiễn thằng anh ra trận mẹ không khóc, chỉ im lặng bóp tay thằng em thật chặt, về nhà bà mới trùm chăn khóc tức tưởi. Tiếng khóc lọt ra ngoài chăn nghe như có vật gì đó đè ngang cổ họng của mẹ. Anh sợ phải nghe tiếng khóc ấy nên đã chạy ra vườn ngồi đến tối mịt mới vào nhà. Mỗi ngày mẹ một cỗi, mắt quầng thâm vì ngóng tin con. Từ ngày anh Hùng hy sinh, đôi mắt bà càng quầng thâm trũng sâu xuống không thể nào đầy lại được nữa.
Chưa bao giờ Mạnh nghĩ mình là con nuôi của mẹ, cũng chưa bao giờ mẹ kể công đã nuôi anh khôn lớn. Đến ngày không còn thơ dại, Mạnh mới biết chồng mẹ là người có thành tích cao trong đoàn dân công thồ gạo lên Tây Bắc năm 1953. Ông mất vì cơn sốt rét ác tính sau đấy không lâu, để lại vợ với con trai chưa đầy năm tuổi. Mẹ lần hồi quanh mẹt bánh đúc ở chợ làng để sống từng ngày.
Cơn mưa giông ập xuống sau buổi vãn chợ huyện năm ấy đã xô đẩy mẹ vào trú ở miếu hoang giữa đồng. Mẹ bảo: "Lúc ấy con vẫn đỏ hỏn, đang thoi thóp trong mớ quần áo bùng nhùng. Ai cũng nói cái số cho mẹ có con nên trời mới xui khiến mọi sự ngẫu nhiên như thế". Con đẻ tên Hùng, mẹ đặt tên đứa con nuôi là Mạnh. Mạnh thua anh Hùng mười một tuổi. Hai anh em không rời nhau nửa bước. Mạnh đâu ngờ sau lần chia tay năm 1972, anh Hùng đã vĩnh viễn nằm lại ở chiến trường.
*
Chắc sợ con mất ngủ, mãi đến lúc lên ôtô mẹ mới dúi vào tay Mạnh bức thư của Phượng. Thư vẻn vẹn chỉ có mấy chữ: "Ngoài anh, em sẽ không làm vợ ai". Mấy con chữ ấy đã lên men cho những ước vọng, làm rạo rực những đêm lạnh thấu xương anh đứng gác ở rừng biên giới. Chưa đầy ba tháng sau Mạnh nhận được tin Phượng đã bỏ nhà đi biệt tích chỉ vì không chấp nhận cuộc hôn nhân theo sắp đặt của gia đình. Bố và anh của Phượng lùng sục như muốn xới tung cả huyện lên vẫn không tìm được Phượng.
Hoàn thành nghĩa vụ trở về anh mới hay, sau kết quả của đoàn thanh tra Trung ương, chú của Phượng và một số cán bộ cốt cán cũ đã buộc phải nghỉ việc chờ cấp trên xử lý. Thỉnh thoảng trên đường làng, gặp người anh thứ hai của Phượng, anh ta nhìn Mạnh như có dao găm trong ánh mắt.
Ngày từng ngày Mạnh mong nhận được tin của Phượng biết nhường nào. Nhưng càng mong càng không thấy. Trong lúc chờ kì thi mới, Mạnh tham gia dạy hát cho thanh niên trong thôn để chuẩn bị cho hội diễn trên huyện. Đêm ấy, sau buổi tập, Mạnh còn ở lại tập thêm một số bài luyện thanh. Chợt anh thấy khói ở ngoài lùa vào khe cửa, lúc đầu chỉ thấy hơi cay cay mắt, sau mới biết nhà văn hóa bị cháy. Mạnh lao ngay ra nhưng cửa đã bị khóa ngoài. Anh dồn hết sức phá chiếc cửa duy nhất rồi không biết gì nữa…Mạnh tỉnh lại ở bệnh viện, da mặt cháy sạm, đôi mắt bị mù vĩnh viễn. Ở bệnh viện, anh nghe người làng nói, đúng cái đêm cháy nhà văn hóa, người anh thứ hai của Phượng bị rắn độc cắn chết ngay tại vườn. Và hình như đã "ngộ", bố Phượng hằng ngày gõ mõ tụng kinh mong Phật đưa Phượng về.
Cứ chiều muộn Mạnh lại dò gậy ra nơi anh với Phượng thường gặp nhau bên ao đình để chìm vào nỗi nhớ. Tối muộn, người mẹ nuôi đã già, cái lưng không còn thẳng, bước chân không còn vững, lại hớt hải chạy ra dẫn con về.
- Con đi gậy chưa quen nhỡ sa xuống ao thì tội lắm con ơi.
- Con tập mãi sẽ quen thôi mẹ ạ.
Hình như mẹ đang sụt sịt. Anh quờ tay lên khuôn mặt nhăn nheo của bà, vừa chạm phải vệt nước mắt trên gò má xương xương. Mạnh bỗng thấy lòng mình tê dại. Chắc hai hố mắt của mẹ giờ này không thể sâu hơn được nữa rồi.
Vào một hôm mưa dầm gió bấc, người mẹ nói với con:
- Mẹ nghe trong người khác lắm, hình như cha và anh con sắp gọi mẹ đi rồi.
- Đừng nghĩ đến cái chết mẹ nhé, mắt con mù nhưng chân tay con còn khỏe, con sẽ đi hát rong để nuôi mẹ.
Người mẹ cười còn hơn mếu, khẽ nắn những ngón tay vẫn lướt trên phím đàn của con. Bà kéo anh sát xuống gần mình, thều thào: "Mẹ không muốn xa con chút nào…".
*
Mạnh hít rất sâu rồi thở dốc ra cho nhẹ lòng. Có tiếng bước chân đạp lên lá khô trên nền bê tông. Bước chậm dần rồi dừng lại trước cửa nhà anh. Gọi nhà cho oai, chứ chiều rộng chỉ khua ngang vòng gậy là chạm vách, chiều dài chỉ dài hơn chiếc giường anh nằm.
- Ai đấy.
Năm bảy phút sau người đứng ngoài cửa vẫn không trả lời, cũng không nghe bước chân bỏ đi. Thấy lạ, Mạnh lần ra cửa. Then vẫn cài ngang không khóa, nếu là kẻ gian nó đã tự mở cửa vào nhà. Linh tính của người khiếm thị cho hay vẫn có người im lặng ở bên ngoài, người ấy đứng cách anh chỉ tầm tay với.
- Ai… cần gì nói đi.
- Anh Mạnh!
Tiếng gọi tên anh rất nhỏ, vừa thoát ra từ hơi thở của người gọi cũng đủ cho anh nhận biết thanh âm ấy không thể nào lẫn với bất kì một ai, nó ấm êm quen thuộc như từ đầu bên kia hai mươi năm vọng tới. Nó làm cho nhịp tim dưới lồng ngực anh đập loạn. Đúng nàng rồi. Lập cập lần sờ then cài cửa, anh lạc cả giọng mình:
- Phượng đấy ư?
- Vâng, em đây.
Mạnh dắt tay nàng vào nơi trú nắng mưa của mình, hay nàng dắt anh bước qua hai mươi năm, anh cũng không phân định nổi nữa. Mắt anh không còn nhìn thấy hình hài của Phượng, nhưng sự thuần khiết của nàng đang ùa vào hồn anh. Ngoài trời, cơn gió cuối cùng của mùa đông đang vợi dần