Bình dị mà lớn lao

Đó là người phụ nữ bình thường như bao bà mẹ Việt Nam thời kỳ đất nước còn dưới ách ngoại xâm. Và bà không giữ trọng trách gì trong tổ chức Đảng, đoàn thể. Song sinh thời bà luôn được quần chúng cùng các vị lãnh đạo cấp cao yêu mến, kính trọng. Bà tên là Đặng Quỳnh Anh…

Bà Đặng Quỳnh Anh quê làng Lương Điền, tổng Bích Triều, nay là xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sinh ra trong một gia đình nho học, có nhiều người đỗ đạt, họ tộc lại giàu truyền thống yêu nước. Năm 1885 vua Hàm Nghi “bá thiên” chiếu Cần Vương. Cha bà, cụ Đặng Thái Văn theo Đề Định phò vua chống Pháp. Anh con ông bác ruột là Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn đang là Đốc học Nghệ An liền treo ấn từ quan, cùng các sĩ phu Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế… khởi xướng phong trào Đông Du, sau bị Pháp bắt lưu đày 13 năm ở Côn Đảo. Anh ruột Đặng Thúc Hứa đỗ tú tài, cũng tìm cách xuất dương, gây dựng phong trào từ hải ngoại. Anh thứ Đặng Thái Xương là một yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội vùng Thanh Chương.

Bà lớn lên trong một gia đình văn thân, có lòng yêu nước nhiệt thành như thế, nên khi còn rất trẻ đã đi làm cách mạng. Ban đầu bà làm giao thông cho Quang phục hội. Trong một chuyến giao liên bà đã quen với con gái cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - bà Nguyễn Thị Thanh, chị gái Bác Hồ. Bà có ấn tượng với bà Thanh, một người tinh thông chữ Hán, biết làm thơ và tháo vát, quen nhiều nhân vật “cứng đầu” của xứ Nghệ ngày đó. Một hôm, bà nhận được lời nhắn từ Xiêm của người anh ruột, giờ đã có bí danh là Tú Đi: O (tiếng Nghệ Tĩnh nghĩa là cô) sang Xiêm (Thái Lan) gấp, mang theo quỹ hội (200 đồng Đông Dương) để mua súng. Bắt đầu một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của bà.

Tại Pạc Nậm Phô đất bạn, bà được ông anh giao hai việc “quan trọng”: Nuôi dạy các thanh, thiếu niên được tuyển chọn từ trong nước và làm ruộng để có lúa gạo nuôi anh em, góp vào quỹ mua súng đạn. Ông Tú Đi sợ cô em chưa hiểu hết tầm quan trọng của việc đoàn thể, còn căn dặn: “Công việc này o đừng tưởng là nhỏ mọn. Một con dế có thể đào lở thành trì!”. Thế là chỉ vài năm trên đất khách, bà Quỳnh Anh đã cùng hai ông Đặng Tử Kính và Hồng Chung gây dựng được hai trại trồng lúa, gọi là “trại cày” và một trại nuôi các em nhỏ gọi là “trại các em”. Có thời kỳ bà đã dựng được trại cày đủ điều kiện để làm ra nhiều lúa gạo, lại vui vẻ bàn giao cho người đến sau để đi mở trại mới. Bà dành nhiều thì giờ hơn cho việc coi sóc các em và thực sự trở thành người chị, người mẹ hiền nuôi dạy các em từ nhỏ đến tuổi trưởng thành, đủ điều kiện là “hạt giống đỏ” gieo vào “mùa tranh đấu”.

Bình dị mà lớn lao ảnh 1

Bà Quỳnh Anh trước ảnh Bác Hồ (năm 1972).

Độ ấy trong số những “học sinh” của bà có cậu Doãn và cậu Cháu được chọn đi Trung Quốc hoạt động, hai người đổi tên mới là Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thái. Hôm tiễn hai em lên đường, nhận từ tay chị Sáu (tên chồng bà Quỳnh Anh) tiền lộ phí, cậu Doãn (Lê Hồng Phong) cảm động nói: “Cảm ơn chị Sáu, chúng tôi hứa trên dọc đường sẽ chỉ dùng tiền của chị một cách có ý nghĩa”. Thế rồi ít lâu sau vang vọng sang đất Xiêm một “tiếng nổ” chấn động từ xứ Đông Dương thuộc Pháp.

Hôm đi đón toàn quyền Méc-lanh tại Sa Diện, Quảng Châu, anh Phạm Hồng Thái (cậu Cháu) đóng giả thợ chụp ảnh trà trộn vào đám đông. Và trong phút quyết định, người thanh niên cảm tử ấy ném một quả bom tự tạo về phía tên toàn quyền. Bom nổ nhưng Méc-lanh thoát được, anh bị rượt đuổi, đã nhảy xuống sông Châu Giang và bị chết đuối. Đó là ngày 19/6/1924. Bà Sáu cùng các đồng chí của Phạm Hồng Thái đã ngậm ngùi tổ chức lễ truy điệu người nghĩa sĩ từng lớn lên ở trại cày, sớm bỏ mình vì nước.

Còn Lê Hồng Phong, sau những năm gây dựng phong trào, anh được cử đi học ở Đại học Phương Đông ở Mat-xcơ-va. Tháng 3/1935 tại Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao, anh đã được bầu Tổng bí thư (là Tổng Bí thư thứ hai của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai đoạn 1935-1936). Rồi hai lần bị địch bắt, lưu đày ngoài Côn Đảo, dù hoàn cảnh nào anh vẫn giữ vững khí tiết. Chế độ nhà tù khắc nghiệt và bị tra tấn dã man, anh đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6-9-1942, cũng là sinh nhật lần thứ 41 của người chiến sĩ cộng sản kiên cường ấy. 

Ở vùng đông bắc Thái Lan nơi bà Quỳnh Anh dựng trại, có hơn 3 vạn Việt kiều sinh sống, họ đã chủ động tập hợp trong các hợp tác xã nghề nghiệp để cùng làm ăn, hỗ trợ nhau. Những năm cuối thập niên 20 của thế kỷ trước, dưới sự chỉ đạo của ông Tú Đi (Đặng Thúc Hứa) và ông Ích (Hồ Tùng Mậu), đã tuyển các hội viên có tinh thần yêu nước trong các hội nghề nghiệp vào một hội có mục tiêu chung là đấu tranh giành độc lập cho đất nước: Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Và căn nhà sàn của ông bà Sáu trở thành “đại bản doanh” của hội. Thời kỳ này, ông Sáu Tùng chồng bà đảm nhiệm Bí thư hội. Một hôm ông Ích đưa cho bà quyển vở và bảo: “Chị Sáu chép vào đây bài Quốc tế ca để học thuộc. Nguyên bài ca bằng tiếng Pháp, các nhà cách mạng mỗi nước đều đã dịch ra tiếng nước họ. Ở ta, ông Nguyễn Ái Quốc đã dịch thành thể lục bát cho mọi người dễ nhớ, dễ thuộc”. Rồi ông Ích chậm rãi đọc cho bà chép bản dịch đó: Những ai nô lệ trên đời/ Những ai cực khổ đồng thời đứng lên/ Bất bình này chịu sao nên… Sau lần ấy ông Ích có việc đi U Đon ngay, bà chưa kịp hỏi người dịch bản Quốc tế ca là ai.

Đến giữa năm 1928, nhà bà Quỳnh Anh đón một vị khách tên là Chín, mà như chồng bà giới thiệu, là bạn thân từ hồi ở Quảng Đông, anh ấy là thư ký một hãng buôn, sang đây tìm mối hàng. Vị khách dáng cao gầy, trắng trẻo, có đôi mắt to, sáng, giọng xứ Nghệ từ tốn, ấm áp. Bà Quỳnh Anh luôn cảm thấy như đã gặp ông Chín ở đâu rồi. Sáng ra ông Chín dậy sớm luyện võ, rồi đi dọn dẹp vệ sinh nhà cửa trước sau. Đến cuộc họp toàn bộ anh em do Chi bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội bản Đông triệu tập, ông Chín nói chuyện, phân tích đâu ra đấy tình hình trong nước, thế giới và đặt ra nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài cho thanh niên Việt Nam. Tối hôm đó bà Quỳnh Anh bảo nhỏ với chồng: “Ông Chín là con cụ Phó bảng Sắc!”. Chồng bà ngạc nhiên hỏi lại: “Do đâu Quỳnh Anh nói vậy?”. Bà cười: “Ông ấy có nhiều nét giống bà Thanh”. Sau khi ông Chín đi rồi, chồng bà mới cười tủm tỉm khen vợ có đôi mắt tinh đời, bảo ông ấy đúng là con cụ Phó bảng Sắc và cũng là người đã dịch bài Quốc tế ca.

Anh trai bà, ông Tú Đi đã cùng ông Chín đi được nhiều ngày, nhiều nơi trên đất Xiêm, đã lâu không thấy hai người trở lại. Một ngày giữa tháng 3-1931, tin dữ đưa về: Ông Tú Đi bị bệnh mất đột ngột tại Noỏng Bùa. Tối hôm đó ông Tú Đi nghỉ tại nhà một Việt kiều là cơ sở cách mạng lâu năm. Sau bữa cơm chiều “tẩy trần”, ông thấy mệt nên đi nghỉ sớm. Lúc gần nửa đêm, bên đĩa đèn nhựa cây cà boong leo lét, bỗng ông Tú Đi bừng mở mắt, gọi tất cả anh em dậy. Ông ngồi dựa vào một đồng chí, thều thào nói: “Tôi không tiếp tục được nữa rồi. Đường còn dài lắm. Cố lên anh em! Đi cho tới đấy nhé!”…

Bà Quỳnh Anh nén đau thương tiếp tục đi trên con đường của người anh đã chỉ ra. Tháng 4/1934, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tại Khỏi Kèn. Những hoạt động của bà cùng anh em trại cày luôn bị mật thám Pháp theo dõi. Đầu năm 1934, nước sở tại đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Thực dân Pháp cấu kết với chính quyền Thái tăng cường khủng bố những gia đình Việt kiều mà chúng nghi có hoạt động cách mạng. Bà Quỳnh Anh bị bắt khi vừa sinh người con trai thứ ba được mấy tháng. Từ đó bà chịu cảnh tù đầy trong 10 năm liền, đến cuối năm 1944 mới được thả.

Đầu tháng 8/1945, bà Quỳnh Anh trong số các đại biểu Việt kiều Thái Lan được Trung ương triệu tập về nước họp Quốc dân Đại hội ở Tân Trào. Sau bao năm xa quê trở về, ở tuổi 60, vẻ bề ngoài của bà vẫn giống như mọi bà mẹ thôn quê Việt Nam: mặc áo cánh nâu sòng, đầu quấn khăn, nhai trầu bỏm bẻm. Tại “thủ đô kháng chiến”, bà đã gặp lại một số vị lãnh đạo, có người từng sống ở trại cày. Sáng hôm đó, bà đến một căn nhà tranh tre - nơi làm việc của Chính phủ, một người cao, gầy, da ngăm đen chạy ra, ôm lấy bà lắc lắc, nói: “Đồng đây, Đồng đây! Bác mới về”. Bà hơi ngỡ ngàng, hỏi lại: “Anh Phạm Văn Đồng phải không?” Rồi, đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh đón bà. Sau khi hỏi thăm tình hình sức khỏe, đồng chí muốn bà tĩnh dưỡng một thời gian, khi khỏe có thể nhận một việc gì đó “thật nhẹ nhàng” cho vừa sức. Đồng chí cũng cho biết hôm nay Bác Hồ đi công tác vắng.

Sau đó không lâu, có một hội nghị của phụ nữ kháng chiến. Bác đến dự. Bà rất hồi hộp, không biết Bác có khác nhiều so với ông Chín ngày xưa bên Xiêm không? Kia rồi! Mọi người ùa ra đón Bác. Người xuống ngựa, bỏ mũ. Sau hơn 25 năm gặp lại, Bác có già đi, tóc bạc, râu dài, gầy hơn, chỉ đôi mắt vẫn sáng rực. Bác lo trăm công nghìn việc, trải qua bao biến cố, chắc gì đã nhớ mình, bà thầm nghĩ vậy. Nhưng Bác nhận ra bà ngay, nhanh nhẹn đến bên hỏi: “O đã về. O có được khỏe không?”. Bà nghẹn lời, nước mắt ứa ra. Bác lại hỏi: “O vẫn nhớ tiếng mẹ đẻ chứ?”. Bà nói: “Thưa, còn nhớ cả răng, rứa, mô, tê nữa”. Bác gật đầu vui vẻ. Rồi Bác nói với mọi người đang đứng xung quanh: “Lão đồng chí Quỳnh Anh đã có công lao nuôi dưỡng nhiều lớp cán bộ, đặc biệt lớp tuổi măng non, bổ sung cho đội ngũ cán bộ nước ta. Nhiều đồng chí cán bộ cao cấp từng được lão đồng chí Quỳnh Anh nuôi nấng hoặc chăm sóc, giúp đỡ lúc hoạt động ở Thái Lan, trong đó có cả Bác nữa. Nay lão đồng chí không quản tuổi già sức yếu về nước công tác, các cô phải hết lòng giúp đỡ, săn sóc lão đồng chí cho chu đáo”. Đến đây, Người hạ giọng nói như chỉ để mình bà nghe: “O về nước lúc này là vất vả đấy. Cánh già chúng mình, chưa mấy ai nghĩ đến chuyện vào trại dưỡng lão đâu nhỉ”.

Bà Đặng Quỳnh Anh lại nhận công việc bình thường mà trước bên Thái đã làm. Trên chiến khu, bà trông nom các cháu ở trại trẻ của Hội Liên hiệp phụ nữ đóng tại Khau Khe, Bắc Kạn; Sau ngày hòa bình, trở về thủ đô, bà phụ trách Vườn trẻ trung ương…

Bà qua đời năm 1973, hưởng thọ 88 tuổi.

Nhà văn Đặng Thai Mai (1902-1984), con trai nhà cách mạng Đặng Nguyên Cẩn, gọi bà Quỳnh Anh là cô, trong một bài viết sau ngày bà qua đời, đã hình tượng hóa con đường mòn mà “bà o” của mình cùng bao  chiến sĩ tiền bối đã khai phá, và có lời nhắn nhủ thế hệ hôm nay: “Tôi còn nhớ một vài hình tượng những ngày o tôi và những người cùng thế hệ đi trên bao nhiêu nẻo đường rừng, đường rú từ miền Tây Nghệ An lên Lào, rồi từ Lào qua Xiêm. Các bạn thanh niên chúng ta ngày nay có thể tự hào là trên thế giới có một con đường mòn lúc đầu rất nhỏ nhưng giờ đây nó đã dài hơn, lớn hơn bất kỳ một con đường đại lộ lịch sử nào trên mặt đất: đường mòn Hồ Chí Minh!”

Phạm Quang Đẩu

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.