Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ ba:

ASEAN giải bài toán an ninh năng lượng như thế nào?

Trong bối cảnh địa chính trị thế giới biến động, nhu cầu năng lượng không ngừng gia tăng, các đại biểu dự phiên toàn thể thứ tư trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) lần thứ ba, đã nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một hệ thống năng lượng kết nối, sạch, bền vững và có khả năng chống chịu cao.

ASEAN sở hữu tiềm năng rất lớn về năng lượng tái tạo

Phát biểu tại phiên thảo luận ngày 10/6 với chủ đề “Tăng cường an ninh năng lượng trong bối cảnh mới”, bà Seema Malhotra, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Anh, cho rằng ASEAN và các đối tác cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang hệ thống năng lượng sạch, tăng cường khả năng chống chịu trước những cú sốc từ bên ngoài.

Theo bà Malhotra, Anh sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý rủi ro thị trường, đa dạng hóa nguồn cung và phát triển năng lượng tái tạo, nhấn mạnh tầm quan trọng của các sáng kiến hợp tác như Đối tác Chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) tại Việt Nam và Indonesia, các nỗ lực hỗ trợ triển khai Lưới điện ASEAN.

1.jpg
Bà Seema Malhotra, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Anh phát biểu tại phiên thảo luận.

Bà Seema Malhotra nêu rõ, một hệ thống năng lượng kết nối và bền vững không chỉ bảo đảm lợi ích cho từng quốc gia mà còn mang lại lợi ích chung cho toàn khu vực. Khi các nước có thể chia sẻ nguồn lực, hỗ trợ lẫn nhau trong giai đoạn khó khăn, khả năng ứng phó với các cú sốc năng lượng sẽ được nâng cao đáng kể.

Chia sẻ góc nhìn của mình, bà Christiane Hagedorn, Giám đốc Chương trình Hỗ trợ Năng lượng của Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) chỉ rõ, việc quá phụ thuộc vào nguồn năng lượng hoá thạch là nguyên nhân của nhiều cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng.

Theo bà, trong suốt thế kỷ XXI, tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia phần lớn dựa trên nhập khẩu năng lượng và sự phụ thuộc lẫn nhau trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Hàng loạt cú sốc năng lượng trong những thập kỷ qua, từ khủng hoảng giá dầu, thảm họa hạt nhân Chernobyl và Fukushima cho đến cuộc khủng hoảng khí đốt tại châu Âu hay những bất ổn tại eo biển Hormuz, đã làm rõ tính dễ tổn thương của mô hình phát triển này.

Đại diện GIZ cho rằng những cuộc khủng hoảng năng lượng đã trở thành động lực thúc đẩy các quyết sách lớn về chuyển đổi xanh và nhờ tiến bộ công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, các quốc gia hoàn toàn có thể giảm cường độ năng lượng trong khi vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế.

Bà nhấn mạnh, ASEAN sở hữu tiềm năng rất lớn về năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời. Việc khai thác hiệu quả các nguồn năng lượng này không chỉ giúp bảo đảm an ninh năng lượng mà còn góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Để hiện thực hóa tiềm năng này, đầu tư vào hạ tầng lưới điện, hệ thống lưu trữ năng lượng và các giải pháp lưới điện thông minh đóng vai trò then chốt.

“GIZ đang hỗ trợ chính phủ Việt Nam phát triển các hệ thống lưới điện thông minh nhằm tạo điều kiện tích hợp năng lượng tái tạo và lưu trữ điện năng. Đồng thời, quá trình chuyển đổi năng lượng cũng cần gắn liền với chuyển đổi xã hội, bởi đây sẽ là động lực tạo ra nhiều việc làm mới và mở ra các cơ hội phát triển bền vững cho người dân trong tương lai”, bà Christiane Hagedorn khẳng định.

Cần theo đuổi lộ trình chuyển đổi phù hợp, bao trùm

Với quy mô nền kinh tế khoảng 3.700 tỷ USD và nhu cầu năng lượng sơ cấp lên tới 550 triệu tấn, ASEAN vẫn đang phụ thuộc đáng kể vào các nguồn nhiên liệu hóa thạch để duy trì đà phát triển, đồng thời phải đối mặt với lượng phát thải carbon ngày càng lớn.

Theo tiến sĩ Venkatachalam Anbumozhi từ Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA), thách thức của ASEAN hiện nay không chỉ là tách tăng trưởng kinh tế khỏi mức tiêu thụ năng lượng, mà còn phải bảo đảm quá trình chuyển đổi năng lượng diễn ra một cách bao trùm.

Về lâu dài, ông Anbumozhi đề xuất ASEAN cần tập trung vào ba trụ cột quan trọng gồm tăng cường dự trữ dầu chiến lược, đẩy nhanh triển khai Lưới điện ASEAN và phát triển hệ thống đường ống khí đốt xuyên ASEAN. Bên cạnh đó, ASEAN cũng cần tối đa hóa các nguồn năng lượng nội tại, đẩy mạnh số hóa chuỗi cung ứng và xây dựng cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm trong hoạch định chính sách năng lượng.

0.jpg
Tiến sĩ Venkatachalam Anbumozhi từ Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á nhấn mạnh thách thức của ASEAN hiện nay không chỉ là tách tăng trưởng kinh tế khỏi mức tiêu thụ năng lượng, mà còn phải bảo đảm quá trình chuyển đổi năng lượng diễn ra một cách bao trùm.

Về phía Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam nhận định, chúng ta đang đứng trước bài toán cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, chuyển đổi xanh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong bối cảnh thế giới nhiều biến động.

Mặc dù năng lượng tái tạo đã có bước phát triển đáng kể, cơ cấu năng lượng của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào than đá và dầu mỏ, trong khi mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu ngày càng gia tăng. Ông viện dẫn, chỉ riêng năm 2024, Việt Nam đã nhập khẩu gần 26 triệu tấn dầu quy đổi, khiến nền kinh tế dễ bị tác động bởi các cú sốc toàn cầu.

Để giảm thiểu rủi ro này, Việt Nam đang triển khai Quy hoạch điện VIII (PDP8) với nhu cầu đầu tư khoảng 136 tỷ USD đến năm 2030, tập trung giảm dần điện than, phát triển điện gió ngoài khơi, năng lượng tái tạo và các hệ thống lưu trữ năng lượng. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cũng đặt ra những áp lực lớn về tài chính và bảo đảm nguồn cung ổn định cho nền kinh tế.

Theo tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, Việt Nam không lựa chọn cách chuyển đổi đột ngột mà theo đuổi lộ trình dựa trên ba trụ cột gồm tối ưu hóa nguồn lực trong nước, bảo đảm an ninh vật chất của hệ thống năng lượng và duy trì nguồn điện nền ổn định. Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy đủ điện sang mô hình an ninh năng lượng toàn diện, trong đó các mục tiêu kinh tế, môi trường và an ninh quốc gia được cân đối đồng thời.

Ông nhấn mạnh, Việt Nam cam kết theo đuổi sự cân bằng đó, nhưng để hiện thực hóa mục tiêu an ninh năng lượng sẽ cần nguồn vốn rất lớn, sự kiên trì trong dài hạn và đặc biệt là sự hợp tác quốc tế, bởi đây không phải là nhiệm vụ mà Việt Nam có thể thực hiện một mình.

Kim Khánh-Minh Thư

Các tin khác

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện đồng bộ các dự án luật về đất đai, nhà ở, bất động sản để khơi thông nguồn lực

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Hoàn thiện đồng bộ các dự án luật về đất đai, nhà ở, bất động sản để khơi thông nguồn lực

Sáng 9/9, Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành liên quan về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), trước khi các cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ, trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân bắt đầu thăm chính thức Mông Cổ

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân bắt đầu thăm chính thức Mông Cổ

Theo đặc phái viên TTXVN, trưa 9/9 (theo giờ địa phương), Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân Nguyễn Thị Thanh Nga cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến sân bay Chinggis Khan, thủ đô Ulaanbaatar, bắt đầu thăm chính thức Mông Cổ theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Mông Cổ Sandag Byambatsogt và Phu nhân từ ngày 9 - 11/9/2026.

Đắk Lắk rà soát hồ sơ cán bộ nghỉ theo Nghị định 178

Đắk Lắk rà soát hồ sơ cán bộ nghỉ theo Nghị định 178

Sau khi Kiểm toán Nhà nước chỉ ra hàng loạt sai sót trong thực hiện chính sách theo Nghị định 178, Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk thành lập 6 tổ công tác rà soát toàn bộ hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được giải quyết chính sách.

Việt Nam - Pháp: Kiến tạo động lực chặng đường phát triển mới

Việt Nam - Pháp: Kiến tạo động lực chặng đường phát triển mới

Chuyến thăm chính thức Pháp và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mở ra những định hướng hợp tác quan trọng trong các lĩnh vực chiến lược và phát triển bền vững, góp phần cụ thể hóa khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện và tạo thêm động lực đưa quan hệ Việt Nam - Pháp phát triển sâu rộng.

Mở rộng và cụ thể hóa các trụ cột hợp tác Việt Nam – Mông Cổ

Mở rộng và cụ thể hóa các trụ cột hợp tác Việt Nam – Mông Cổ

Sau hơn 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt kể từ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Mông Cổ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm năm 2024, quan hệ Việt Nam - Mông Cổ đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều điểm sáng ngày càng rõ nét và thực chất.