Bộ phim "Long Thành cầm giả ca" do Hãng phim Giải phóng sản xuất phóng tác theo bài thơ chữ Hán cùng tên của đại thi hào Nguyễn Du, tác giả kịch bản NSƯT Văn Lê và đạo diễn Đào Bá Sơn vừa tham dự Liên hoan phim Quốc tế Việt Nam lần thứ nhất. Diễn viên Nhật Anh Kim (vai Cầm) đoạt giải "Nữ diễn viên xuất sắc". Đây quả là tin vui đến với dòng phim lịch sử Việt
Có lẽ cũng đã lâu điện ảnh Việt
Trước tiên phải khen Cục Điện ảnh có con mắt tinh đời và đủ bản lĩnh để trao giải nhất cho kịch bản này trong cuộc vận động viết về một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội: Phim "cúng cụ" mà lại dám mang chuyện tình thi sĩ với giai nhân ra cho công chúng thưởng thức! Nhưng có lẽ công chúng khán giả của năm 2010 này không những không thấy phiền hà gì mà con rất cảm ơn ngành Điện ảnh đã mang đến cho họ một bữa tiệc văn hoá Thăng Long cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Cái xã hội Long Thành đầy bất trắc hỗn loạn thời đó với nạn kiêu binh dám ăn hiếp cả vua, với phong cách Tây Sơn tuy oai hùng nhưng lạ lẫm với kinh kỳ, rồi quân Mãn Thanh tàn độc, rồi những cuộc chạy loạn liên miên của người dân tứ trấn… Tất cả những cái đó được bộ phim thể hiện ở tầng sát đáy, tầng văn hoá lắng đọng nhất thông qua số phận nổi chìm của một ca nhi với nỗi đau xé lòng của một tâm hồn kẻ sĩ mênh mang trước cảnh "bể dâu" của non sông đất nước.
Thêm nữa, việc tác giả kịch bản chọn mạch kịch tính trong đó làm nổi bật lên mối quan hệ giữa thi nhân và đào nương - người thể hiện những tác phẩm của mình bằng lời ca tiếng đàn - là một mạch độc đáo, hiếm thấy trong các hình thái nghệ thuật của thế giới. Nó khiến cho bản sắc thuần Việt của bộ phim càng được khẳng định và thăng hoa.
Về mặt đạo diễn, trong Long Thành cầm giả ca đạo diễn Đào Bá Sơn đã có chủ ý kể chuyện bằng văn hoá. Từ cái giếng đá mang hình cây đàn nguyệt, đến hệ thống "âm thanh chum" dùng để luyện thanh cho các ca nhi, các làn điệu kinh điển trong kho âm nhạc cổ truyền dân tộc (thuộc cả Đàng Trong, Đàng Ngoài), và vũ đạo "nhập đồng" cổ xưa nhất… đều đã được đạo diễn khai thác một cách triệt để và đầy cảm hứng.
Về phục trang - nỗi lo ngại thường trực đối với bất kỳ ai có dự tính thực hiện một bộ phim lịch sử, thì có thể nói, với Long Thành cầm giả ca, nữ họa sĩ thiết kế trang phục Nguyễn Thu Hà đã có những thành công đáng nể, chứng tỏ đẳng cấp tay nghề trong lĩnh vực phim lịch sử. Chọn màu nâu giản dị với nhiều sắc độ khác nhau, khai thác rất chọn lọc giải pháp "mớ bảy mớ ba" lấp ló những màu "tươi vui nền nã" khiến người xem có cảm giác được gặp lại cả suối nguồn y phục của người xưa.
Có thể còn một số khiếm khuyết khiến bộ phim không toàn bích. Như việc quá lạm dụng thoại, hoặc đôi chỗ có thể cắt gọn để ấn tượng thị giác sắc nét hơn… Nhưng cái đáng quý nhất của phim Long Thành cầm giả ca là đạo diễn đã dũng cảm và tự tin đưa cái giản dị nền nã của văn hoá Đại Việt ra đương đầu với ngựa hí quân reo, với gươm giáo rợp trời của hàng loạt phim lịch sử đang trùng trùng xuất hiện trong dịp này.
Cảnh trong phim “Long Thành cầm giả ca”.
Có lẽ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và Liên hoan phim quốc tế Việt Nam lần thứ nhất cũng là dịp để điện ảnh - truyền hình nước ta thử sức khai mở dòng phim lịch sử. Sau những thử nghiệm ban đầu, chắc chắn một câu hỏi cần được đặt ra là phim truyện lịch sử Việt Nam nên theo hướng "cung đình - chiến trận" như Lý Công Uẩn - Đường đến Thăng Long, Khát Vọng Thăng Long, Huyền Sử Thiên Đô, Trần Thủ Độ… hay nên đi vào vùng văn hoá - văn minh Đại Việt? Câu trả lời sẽ dễ dàng tìm thấy khi mục tiêu sản xuất phim lịch sử được xác lập đúng đắn rằng nó (phim lịch sử) không nên chỉ được làm ra nhân dịp một đại lễ, hay một mục tiêu quảng bá ngắn hạn nào đó. Nó phải trở thành hoạt động sáng tạo và sản xuất thường trực, đều đặn, như một nghĩa vụ thống nhất trong toàn ngành, toàn xã hội. Nó cần được Nhà nước coi trọng như một trong những vũ khí chiến lược của ngành Văn hoá trong sự nghiệp xây dựng con người Việt
Thử tưởng tượng nếu dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng long - Hà Nội này, công chúng điện ảnh được thưởng thức một sê-ri phim tương tự như Long Thành cầm giả ca với các chân dung danh nhân - tài tử đất Thăng Long như Trần Nhật Duật, Chu Văn An, Hồ Xuân Hương, Cao Ba Quát, Nguyễn Siêu… thì bữa đại tiệc văn hoá Thăng Long sẽ thịnh soạn biết chừng nào. Và cái nạn "giống phim hàng xóm" là hoàn toàn có thể loại trừ. Rồi từ đó, các binh chủng hợp thành của điện ảnh - truyền hình được tôi luyện sẽ tiếp tục cho ra lò những tác phẩm định hình hơn, hoành tráng hơn, xác định rõ nét hơn thương hiệu Phim Việt.
Cho đến thời khắc này, chắc chắn vẫn còn không ít những lo ngại, những nghi hoặc về khả năng làm phim lịch sử của điện ảnh Việt
Phải chăng, nhỏ nhẹ và sâu lắng chính là bản sắc Việt? một đất nước "nghìn năm mất nước mà không mất làng" chính nhờ sự lắng đọng văn hoá từ sâu thẳm tâm linh dân tộc như vậy, tại sao lại không được điện ảnh khai thác một cách chủ động và có chiến lược, đặng tạo nên một dòng phim lịch sử đủ sức khắc họa hình ảnh dân tộc chính xác nhất, thuyết phục nhất, không chỉ đối với quốc tế mà còn hơn thế, là tạo nên một thứ bảo tàng văn hoá bằng hình, một thư viện kiến thức chuyển động và hấp dẫn đối với mọi thế hệ người Việt?