Đánh giá 5 năm gia nhập WTO, Chính phủ xác định nguyên tắc có tính chiến lược: Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Nguyên tắc trên không mới, đã được Đảng ta xác định trong các văn kiện, nghị quyết, đặc biệt là trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020. Tuy nhiên, phải đến lúc này, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vô cùng bất ổn thì vấn đề kinh tế độc lập, tự chủ lại mang tính thời sự nóng bỏng. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009 lan rộng, thế giới chứng kiến hàng loạt nền kinh tế vốn được coi điểm tựa khu vực rơi cảnh "đổ đèo"; tiếp đó là khủng hoảng nợ công đẩy nhiều nền kinh tế châu Âu khốn đốn. Hai sự biến về kinh tế toàn cầu trên như vết dầu loang, hệ lụy của kinh tế mở, phát triển nóng nhưng rỗng ngay trong nền móng của nó. Đó lại là thời điểm kinh tế Việt Nam bước vào sân chơi lớn, hội nhập WTO. 5 năm qua, khoảng thời gian mới chỉ đủ cho một kế hoạch phát triển tầm trung, chưa thể khẳng định được nhiều. Tuy nhiên, hai sự biến về kinh tế ngay cửa biển hội nhập đã là sự thách thức vô cùng lớn.
Nền kinh tế độc lập, tự chủ được hiểu là nền kinh tế có khả năng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, có khả năng thích ứng cao với những biến động "bão táp" của tình hình quốc tế. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trước hết là về đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, tạo tiềm lực khoa học, công nghệ, kinh tế, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh. Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tạo điều kiện để thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế.
Trong xu thế phát triển, nợ nước ngoài tạo ra nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế nhưng có điểm giới hạn, nếu vượt quá điểm này sẽ tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế. Nếu như năm 2006, nợ nước ngoài là 31,4% so GDP thì năm 2010, con số này tăng lên 42,2%. Theo các tổ chức tài chính quốc tế, Việt Nam là nước có mức nợ nằm trong tầm kiểm soát và không nằm trong nhóm các nước có gánh nặng về nợ (theo nghiên cứu, nếu nợ nước ngoài nhỏ hơn mức 65% GDP sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nếu tỷ lệ này vượt quá 65% thì nợ nước ngoài sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế). Tuy nhiên, nếu chúng ta không thận trọng mà đầu tư bằng vốn vay quá lớn (như việc Hà Nội đề xuất đồ án giao thông lên tới 1,1 triệu tỉ đồng, gấp 1,5 lần tổng ngân sách quốc gia) thì gánh nặng trả nợ cho con cháu đặt ra thách thức rất lớn.
Trong bối cảnh khó khăn, kinh tế nước ta vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá và ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là chất lượng tăng trưởng. Tuy nhiên, tác động của sự bất ổn kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng lớn đến nội lực, thể hiện rõ ở sự giảm phát trong mấy năm qua (giai đoạn 2007-2012, tốc độ tăng trưởng thấp hơn các giai đoạn trước), cùng với đó là lạm phát, bất cân đối cán cân thương mại xuất, nhập khẩu. Đó là hệ quả sự phụ thuộc nhiều hơn của nền kinh tế trong nước vào nền kinh tế toàn cầu.
Thực tế cho thấy, bất kỳ sự bất ổn nào của thị trường tài chính, thương mại, lao động trên thế giới đều mang tính lan truyền, ảnh hưởng đến tất cả các nền kinh tế mà những nền kinh tế mới nổi như Việt Nam dễ bị tổn thương. Chúng ta cũng đứng trước những thách thức như việc tham gia vào các hoạt động sản xuất theo chuỗi giá trị toàn cầu, bên cạnh lợi thế, sẽ là các bất lợi với nguy cơ trở thành nơi tiếp nhận các khâu sản xuất có giá trị gia tăng thấp và sử dụng nhiều lao động dịch chuyển từ các nước đi trước. Nền kinh tế phải đối mặt với những rủi ro kinh doanh cao hơn, với nhiều bất lợi trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, khủng hoảng năng lượng và an ninh lương thực đang nổi lên