Hình tượng một con người tài năng phải đội lốt chó đi phục vụ cho một gã trọc phú. Rồi chính con người đó khi trở về bản ngã của mình đã tranh luận gay gắt với cái lốt chó ra sao. "Vô đề" của Giang Phong có thông điệp về con người trong sự thăng trầm của cơ chế thị trường, lời thoại biến báo, linh hoạt có nhiều tầng nghĩa. Vậy mà ra đời trong trại sáng tác Đại Lải được Hội NSSKVN tặng giải từ năm 2002 đến nay "Vô đề" vẫn chưa được đoàn kịch nào dàn dựng.
Trong trại sáng tác của Hội NSSKVN được tổ chức trong tháng 11/2010, Giang Phong vừa hoàn thành kịch bản chống ma tuý với nhan đề "Ngày ấy của em". Nếu tôi không lầm thì đây là kịch bản dài thứ 15 của Giang Phong nhưng không kể 4 kịch bản được dựng trên THVN (trong đó có ba vở viết về Hồ Chủ tịch), 20 vở kịch truyền thanh trên Đài TNVN thì số lượng kịch bản của ông được dựng trên sân khấu vỏn vẹn có 2 vở cách nhau đúng một thập kỉ và cũng do Đoàn Kịch nói Nam Định quê ông.
Giang Phong là một người viết đa tài khi ở tuổi ngoài 60 ông đã có vài chục ấn phẩm ra đời trong đó có 5 cuốn tiểu thuyết, dăm tập truyện ngắn, vài ba phim truyền hình mà gần đây nhất là 40 tập phim của ông được Đài Truyền hình Việt Nam dàn dựng; Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh cũng đang làm phim "Người đánh trống ngũ liên" của ông, Giang Phong cũng đã viết hàng loạt tác phẩm khảo cứu, trong đó danh giá nhất là chuyên luận "Giá đồng nhìn từ góc độ nghệ thuật" bảo vệ giá trị nhân bản và hình thức nghệ thuật dân gian phi vật thể tuyệt vời của giá đồng ngay khi hình thức này đang bị phê phán gay gắt...
Ông cũng gặt hái được không ít giải thưởng của Trung ương và địa phương cho kịch bản sân khấu, gần đây nhất là kịch bản "Họa mi lại hót" của ông đoạt Huy chương đồng trong Liên hoan sân khấu về hình tượng người chiến sĩ Công an do Bộ Công an tổ chức…
Mặc dù viết nhiều thể loại và cũng tham gia nhiều hoạt động nghệ thuật khác nhưng sở trường và sự dằn vặt lớn nhất trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông vẫn là sân khấu. Đọc kịch bản của ông thấy rõ bút pháp của một nhà văn viết kịch. Yếu tố đó đã làm cho hầu hết kịch bản của ông thấm đấm văn chương. Ngay từ các đầu đề kịch bản đã nói lên rất rõ chất văn học đích thực của ông. Từ "Vô đề", "Búp bê nhựa", "Bên kia là thành phố", "Gió từ phía biển"... trong kịch của ông giống như bất kì nhà viết kịch chân chính, nhạy bén nào cũng chạm đến những vấn đề, mảng đề tài sôi động, có sức hấp dẫn nhất của xã hội như ma tuý, văn hoá thôn quê đang bị phá vỡ vì sự đô thị hoá, nhân phẩm con người trong cơ chế thị trường…
Với tài năng của ông nên mọi đề tài đều được ông nghiền ngẫm bằng vốn sống từng trải của con người đã ngoài 60, bằng tình yêu quê hương với một tấm lòng đôn hậu - chủ đề luôn nổi lên trong các tác phẩm ở nhiều thể loại của Giang Phong là tâm hồn và đức hi sinh của con người - để rồi ông tìm ra những thủ pháp mới không lặp lại mình và lặp lại người khác. Phải chăng sự cách tân và những lời thoại đi đến cùng ở kịch bản Giang Phong có thể làm người đọc thích thú nhưng các đoàn kịch e ngại vì sự "nhạy cảm".
Bằng bút pháp và sự trân trọng trong từng câu chữ của nhà văn ngay từ những đề từ khung cảnh cho nhân vật: "Trời tối nhờ nhờ, không nhìn rõ mặt ai. Gió lành lạnh thổi. Những con người đang hối hả đi như cái bóng, im lặng. Mưa. Những hạt mưa hình đồng tiền rơi xuống mặt đất… Bỗng dưng gió thổi lồng lên. Mà lạ, những cơn gió mang màu hồng, gió thổi càng mạnh thì màu sắc của gió càng đỏ…" (cảnh mở của "Vô đề"). Đến lời thoại cũng được ông viết ra đầy sức hấp dẫn: “Việt: -Chưa. Trước mặt là cánh đồng cỏ tranh. Vượt qua cánh đồng cỏ tranh thì đến một thung lũng cỏ. Nơi người yêu của chàng bị mụ phù thủy giữ ở đấy. Trong bãi cỏ tranh nhiều thú dữ và rắn độc lắm...
Thuý: -…Thế là mãi mãi phải xa nhau (cười). Yêu nhau khổ lắm chị Việt nhỉ…” (đoạn trích trong "Họa mi lại hót")
Trên thế giới cũng như ở Việt
Mặc dù tiếp xúc với tác phẩm của ông khá lâu nhưng mãi tới giữa năm 2009 trong dịp cùng các nhà viết kịch trong chi hội tác giả phía Bắc đi thực tế tại Thành Nam, tôi mới gặp ông. Nhìn bề ngoài Giang Phong có vóc dáng của một vận động viên điền kinh cùng một khuôn mặt phong trần, nghiêm cẩn đầy bản lĩnh, gặp lúc vui vẻ lại có thể bắt gặp ở ông nụ cười rất cởi mở. Trong cuộc sống hằng ngày ông thuộc típ người sống theo "chính kịch", quyết liệt nhất là khi bảo vệ chính kiến của mình. Sống kề phòng ông nửa tháng ở trại sáng tác Đại Lải cuối năm 2010, tôi ít nhiều nhận sự đau đáu, trăn trở trong công việc sáng tạo nghệ thuật của Giang Phong. Tất cả đều có căn nguyên của nó.
Giang Phong trùng họ với tôi và cũng giống tôi là con một trong một gia đình nghèo. Bố ông là thầy giáo trường Thành Chung Nam Định đi bộ đội và hi sinh tại mặt trận Tam Đảo khi là đại đội trưởng. Mẹ ông hát quan họ rất hay. Có lần nhớ mẹ, Giang Phong đã viết nên câu văn xuôi giống như thơ, giản dị như chính cuộc sống "tháng ba, hoa xoan rơi, mẹ ngồi sàng gạo". Loay hoay thế nào sau khi tốt nghiệp lớp 10, bỏ lỡ một lần đi đào tạo nghề bác sĩ tại Liên Xô cũ vào học Khoa toán tại Trường Đại học Vinh. Thầy Nguyễn Khắc Phi dạy ông lại phát hiện ra năng khiếu của học trò bèn chuyển ông sang Khoa văn.
Tốt nghiệp xong về dạy cấp 3 ở Nam Sách, Hải Dương. Giai đoạn làm thầy này ông tập tọng viết văn. Truyện ngắn "Tiếng còi" (1966), năm 1968 thêm truyện ngắn "Người sưu tầm văn học dân gian và em bé gái" được Báo Văn nghệ in. "Con liệt sĩ" "được in chung trong tập truyện ngắn của NXB Thanh Niên… Có lẽ vì những "thành tựu văn chương đó"nên ông được cử đi tham dự khoá 3 bồi dưỡng nhà văn trẻ năm 1968-1969 cùng Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Phan Hách, Bích Thuận, Nghiêm Đa Văn…
Sau khoá học ông chuyển về làm biên tập lý luận phê bình, sân khấu cho Tạp chí "Sáng tác Nam Hà" do nhà văn Chu Văn phụ trách. Đường hoạn lộ của Giang Phong cao nhất lên đến chức Trưởng ban bồi dưỡng, kiểm tra của Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh và Trưởng phòng Xuất bản. Giai đoạn này có thể coi là giai đoạn mở đầu làm đà cho sự sung sức trong sáng tác, làm việc của Giang Phong trên nhiều lĩnh vực.
Bên cạnh việc cộng tác làm dư địa chí Nam Định phần nghệ thuật, văn học, báo chí, phát thanh, truyền hình in năm 2000, giữ trọng trách chủ biên Tổng tập Văn học nghệ thuật Nam Định thế kỉ XX gồm sáu tập 5.000 trang in năm 2003 ông liên tiếp cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết như "Nước mắt về chiều", "Cạm bẫy", "Biển trong xanh", "Tình yêu thung lũng hoa", "Thân cò"… Những câu thơ gan ruột đầy tâm trạng của ông khi ông viết về Tú Xương, Nguyễn Bính "nghiến răng nhận lấy cuộc đời/ vu vơ sóng nước, đò trôi đến giờ"… thêm một lần nhấn rõ chất nhân văn và nghệ sĩ của Giang Phong.
Bỗng nhớ câu chuyện Giang Phong kể với tôi về ông trẻ của ông, người em thúc bá với ông nội Giang Phong. Ông Cai Giá, lãnh tụ văn thân vùng quê ông, bị giặc Pháp chặt đầu cắm cọc tre. Bà Lý Chỉ chị ruột Cai Giá bơi qua sông Đáy đút tiền rượu cho lính canh để lấy thủ cấp em trai mình bỏ vào thúng bơi qua sông về chôn tại quê nhà… Một sự kiện đủ sức làm chất liệu cho một cảnh kịch mang đầy chất anh hùng ca của một bi kịch. Thấy bảo Giang Phong mất nhiều thời gian suy tư với hi vọng làm sao đưa được cảnh bi tráng đó lên kịch của mình…
Đại Lải tháng 11 - Quỳnh Mai tháng 12/2010