Anh tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Khoa Văn khóa 14 (1969 - 1973) cùng với một số nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình như Triệu Xuân, Bùi Việt Thắng, Bích Thu, Khuất Bình Nguyên... Năm 1981 anh đã có tập thơ Hoa lau trên chốt, năm 1990 có tập truyện ngắn Thiên nga lạc bầy, trong đó có chuyện Người đàn bà nghịch cát, Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn dựng phim dự thi tại Vơ-ni-dơ Pháp, năm 1991 anh ra tiếp tập thơ Biển hát lời của biển.
Ngoài ra anh còn tham gia dịch thuật, và in các tập tản văn ghi lại những cảm xúc, cảm nhận của mình trên chặng đường dài đi làm công tác đặc biệt của ngành. Chắc cũng vì nhiệm vụ đặc biệt đó mà anh tạm phải gác lại chuyện văn chương thơ phú bay bổng để tập trung cho đặc trưng công việc đòi hỏi nhiều đến lý tính.
Năm trước, anh nhận quyết định nghỉ hưu, như một điều tất yếu, anh trở lại với văn chương. Đọc văn của Nguyễn Đăng An đưa lại cho tôi sự bất ngờ, và tôi tin rằng nếu những ai chưa biết về anh, sẽ rất khó đoán tuổi khi đọc văn anh. Ở anh có cái tươi mới, sùng sục, sung sức của người mới vào nghề và sự từng trải, thâm trầm, đặc biệt là truyện ngắn nào cũng có bố cục và cấu tứ rất chặt chẽ của người đã trải đời, trải nghề.
Vì nghề nghiệp anh đã phải gác lại chuyện văn chương nhưng cũng nhờ nghề nghiệp đã cho anh được đi nhiều vùng đất, tiếp xúc với nhiều tầng lớp người trong xã hội, với nhiều thể chế chính trị khác nhau. Có thể nói nghề nghiệp đã cho anh sống đã rồi mới viết. Đi nhiều, thu lượm nhiều kiến thức, nhưng khi đọc văn anh chúng ta thấy được một triết lý xuyên suốt đó là niềm vui, niềm hạnh phúc và giàu có có thể khác nhau, nhưng nước mắt và nỗi đau thì đều giống nhau.
Và những truyện ngắn hay nhất của anh đều viết về thân phận của người phụ nữ. Người phụ nữ Việt Nam hay người phụ nữ Italia, Pháp, Campuchia... trong chiến tranh hay sau chiến tranh thì đều có chung một nỗi đau dù họ khác màu da, khác ngôn ngữ, khác cả bi kịch nhưng nỗi đau thì có chung. Đó là sự thiếu vắng tình cảm người chồng vì chiến tranh liên miên ở truyện ngắn Lời thề chân lý, nỗi đau của chất độc da cam do hậu quả của chiến tranh trong Người đàn bà ở bến đậu xe thành Rôm hay thân phận của những cô gái điếm trong thiên phóng sự Lời tự bạch của cô gái nhiễm HIV... đều là nỗi đau chung của những người đàn bà do chiến tranh đem lại. Viết về nỗi đau, viết về chiến tranh để mong muốn không còn chiến tranh, đây có lẽ là thông điệp thứ hai mà Nguyễn Đăng An muốn gửi tới bạn đọc.
Cũng có thể là do tuổi tác nên đa số truyện của Nguyễn Đăng An thường có chất triết lý cao nên có thể sẽ hợp hơn những người đọc có một độ tuổi và đã có sự chiêm nghiệm cuộc sống nhất định. 12 truyện ngắn trong tập như là những giọt tinh rượu được chưng cất hơn sáu mươi năm cuộc đời của chính tác giả, và tin chắc rằng đây là một cuốn sách đáng đọc