Các nội dung chính sách xã hội tại Chương này, cùng với các nội dung tương ứng trong Chương quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thể hiện khá toàn diện tư tưởng hiến định về chính sách xã hội trong sửa đổi Hiến pháp.
Trên cơ sở thể chế hóa đường lối phát triển xã hội theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bổ sung, phát triển năm 2011, tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về chính sách xã hội trong DTSĐHP năm 1992 như sau:
Về chính sách lao động, việc làm: Đề nghị sửa Điều 38 DTSĐHP với 3 điều khoản: Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; Công dân được bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, được nghỉ ngơi, có thu nhập công bằng. Và điều khoản cuối cùng là nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật.
Lý do sửa đổi là: Cần bổ sung thêm Khoản 2 để Điều này kế thừa được tinh thần Điều 55 và Điều 56 Hiến pháp năm 1992, đồng thời phản ánh được đầy đủ các khía cạnh pháp lý của quyền công dân về lao động và việc làm, phù hợp với các Công ước quốc tế về vấn đề này. Khoản 3: không nên sử dụng khái niệm "người lao động chưa thành niên" vì Điều 8 Bộ luật Lao động quy định điều cấm "sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật".
Tương thích với quy định về quyền trong lĩnh vực lao động, việc làm, cần sửa đổi, bổ sung Điều 61 DTSĐHP năm 1992 với 2 điều khoản như sau: Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm bền vững cho người lao động; Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Lý do sửa đổi 2 điều khoản trên bởi: Cần nhấn mạnh vai trò của Nhà nước tại Khoản 1 và thể hiện tuyên bố chính sách về vấn đề việc làm; tạo cơ sở hiến định để thúc đẩy xã hội hóa việc tạo cơ hội việc làm; đồng thời sử dụng khái niệm "việc làm bền vững" để có tính khái quát cao, có tính pháp lý và thể chế hóa Cương lĩnh 2011 là "tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn".
Về chính sách an sinh xã hội: Điều 35 DTSĐHP năm 1992 quy định một cách khái quát chính sách an sinh xã hội. Đó là: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội".
Với ý nghĩa là quy định về quyền được bảo đảm an sinh xã hội của công dân, tinh thần dự thảo mang tính tuyên ngôn như vậy là phù hợp. Tuy nhiên, nội hàm của chính sách an sinh xã hội, cùng với các chính sách cụ thể được ghi nhận tại Điều 63 DTSĐHP năm 1992 cần được sửa đổi, bổ sung 4 điều khoản như sau: Nhà nước và xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước; Nhà nước phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác; Nhà nước, xã hội và gia đình chăm sóc, bảo vệ và phát huy vai trò của người cao tuổi; Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có nơi ở".
Lý do sửa đổi: Chuyển Khoản 2 quy định chính sách ưu đãi người có công lên Khoản 1 sẽ phù hợp và có nhiều ý nghĩa hơn, tránh dẫn đến cách hiểu ưu đãi người có công là một bộ phận của chính sách an sinh xã hội, trong khi đây là chính sách độc lập và là chính sách cao nhất trong hệ thống chính sách xã hội. Do vậy, Khoản 2 không nêu tính chất hệ thống an sinh xã hội để thống nhất với các điều khác, đồng thời phân biệt chính sách người cao tuổi là chính sách “chăm lo” khác với các đối tượng khác là “trợ giúp”. Cần bổ sung thêm Khoản 3 để thể hiện riêng chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi, phù hợp với Luật Người cao tuổi. Cần bổ sung thêm Khoản 4 về chính sách nhà ở vì đây là một trong những nhu cầu thiết yếu và cơ bản về an sinh xã hội mà Nhà nước cần hướng đến