Cứ mỗi dịp đến ngày kỷ niệm sinh nhật Bác, 19/5 hằng năm, dòng người về Lăng viếng Bác thường đông hơn. Trong dòng người ấy có cả những em học sinh, bộ đội, cựu chiến binh, cán bộ, người dân, cả du khách nước ngoài từ muôn phương tới kính cẩn viếng Bác. Có người đi rất chậm khi qua cổng. Có người lặng đi trước khi bước vào bên trong. Hơn nửa thế kỷ sau ngày Bác đi xa, tình cảm ấy vẫn còn nguyên vẹn. Ngày này, nhiều thế hệ người Việt tìm về Ba Đình, đứng nghiêm trước Người và tự nhắc mình về một phần lịch sử của đất nước và nguyện cống hiến nhiều hơn cho đất nước.
Trong lịch sử lực lượng Cảnh vệ Công an nhân dân, nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là vinh dự lớn lao, đồng thời là trường học đặc biệt về lòng trung thành, kỷ luật, sự mưu trí và tinh thần tận tụy. Những người lính được đứng bên Bác không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ một lãnh tụ. Họ còn được học từ Người cách giữ bí mật, cách cảnh giác, cách ứng xử với nhân dân và cách giữ mình trước mọi thử thách của công việc đặc biệt.
Ngay từ những năm đầu cách mạng, lực lượng tiền thân của Cảnh vệ đã vinh dự làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong điều kiện chiến khu còn nhiều gian khổ, phương tiện bảo vệ còn rất thô sơ, cán bộ, chiến sĩ chủ yếu dựa vào lòng trung thành, khả năng nắm địa bàn, sự mưu trí và ý thức giữ bí mật tuyệt đối. Bảo vệ Bác trong những năm tháng ấy cũng là bảo vệ cơ quan đầu não của cách mạng, bảo vệ sự an toàn của Trung ương trong những thời điểm khó khăn nhất.
Chính trong thực tiễn ấy, nhiều nguyên tắc căn cốt của nghề Cảnh vệ được hình thành. Đó là không chủ quan trước bất kỳ chi tiết nào; không để lộ quy luật di chuyển, sinh hoạt; không để việc bảo vệ tạo ra sơ hở; đồng thời vẫn giữ được sự gần gũi giữa Bác với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Với người lính Cảnh vệ, bảo vệ không chỉ là đứng gần mục tiêu, mà còn là biết quan sát, phán đoán, xử lý từ sớm những nguy cơ có thể phát sinh.
Ngày 5/3/1947, tại xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, Bác Hồ đặt tên cho tám chiến sĩ Cảnh vệ là Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi. Theo tư liệu đăng trên Báo CAND, khi đặt tên cho các chiến sĩ, Bác nói: “Nhiệm vụ của Bác cháu ta hiện nay và sau này là cùng toàn Đảng, toàn quân đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy, Bác đặt tên lại cho các chú để các chú trở thành khẩu hiệu sống bên Bác, nhắc nhở mọi người hàng ngày phải hoàn thành nhiệm vụ của mình”.
Tám cái tên ấy không chỉ là tên gọi. Đó là lời căn dặn về nhiệm vụ và phẩm chất của người chiến sĩ Cảnh vệ: luôn gắn công việc của mình với nhiệm vụ chung của cách mạng, luôn tự nhắc mình phải hoàn thành nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh. Từ một việc tưởng như giản dị, Bác đã gửi vào đó niềm tin và yêu cầu rất cụ thể đối với những người được giao trọng trách bảo vệ Người.
Đầu năm 1953, trước yêu cầu bảo vệ các chuyến công tác đường dài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cuộc hội họp của Trung ương, Chính phủ và nhiệm vụ phòng, chống tập kích, oanh tạc, Trung ương quyết định thành lập một tiểu đoàn bảo vệ thống nhất với quân số 600 CBCS. Khi cán bộ còn băn khoăn chưa biết đặt tên đơn vị, Bác Hồ đã lấy chính quân số của đơn vị để đặt tên là Tiểu đoàn 600. Tư liệu của Cục Cảnh sát nhân dân I, Bộ Công an, ghi lời Bác: “Chúng ta có 5 đại đội, mỗi đại đội 120 người. Vậy là 600 người. Bác đặt tên là Tiểu đoàn 600”.
Từ Tiểu đoàn 600, ngày 20/9/1954, Bộ Quốc phòng ban hành nghị định phát triển đơn vị thành Trung đoàn 600, nhận nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô. Tiểu đoàn 600 là tiền thân của Trung đoàn 600 ngày nay, đơn vị vinh dự được Bác Hồ đặt tên và được giao nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về tiếp quản Thủ đô.
Trong những năm tháng làm nhiệm vụ bên Bác, người lính Cảnh vệ không chỉ được rèn luyện bằng kỷ luật công tác, mà còn bằng những kỷ niệm sâu sắc với Người. Báo CAND từng ghi lại câu chuyện của Đại tá Ngô Văn Núi, người lính cận vệ năm xưa. Một đêm đầu năm 1954 ở Việt Bắc, trong ca gác bên lán Bác, đồng chí Núi không may trượt xuống hố công sự. Nghe tiếng động, Bác bước ra, hỏi han, rồi nói: “Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống! Để Bác gác cho”.
Chi tiết ấy cho thấy tình cảm đặc biệt của Bác với những người làm nhiệm vụ bên mình. Người lính Cảnh vệ thức để bảo vệ Bác, nhưng Bác cũng luôn nghĩ đến sức khỏe, giấc ngủ, sự an toàn của chiến sĩ. Chính từ những kỷ niệm như vậy, nhiệm vụ Cảnh vệ không chỉ là công việc bảo vệ mục tiêu đặc biệt, mà còn là mối quan hệ của niềm tin, tình cảm và trách nhiệm.
Ngày 21/12/1965, tại Hội nghị mừng công của Trung đoàn 600, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu Bác Hồ cho CBCS Cảnh vệ có thành tích xuất sắc trong công tác. Đây là sự ghi nhận đối với những người âm thầm làm nhiệm vụ bên Người, đồng thời là lời nhắc về phẩm chất mà lực lượng Cảnh vệ phải giữ gìn: trung thành, kín đáo, kỷ luật, tận tụy và không để xảy ra sơ suất.
Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, nhiệm vụ của những người lính Cảnh vệ bên Người chuyển sang một hình thức khác. Họ tiếp tục bảo vệ sự tôn nghiêm của nơi yên nghỉ, bảo vệ các hoạt động vào Lăng viếng Bác, bảo vệ tình cảm thiêng liêng của nhân dân đối với Người. Từ những phiên gác trong chiến khu đến những ca trực nơi Quảng trường Ba Đình, mạch nhiệm vụ ấy vẫn được nối dài bằng lòng trung thành và ý thức trách nhiệm tuyệt đối.
Ngày nay, lực lượng Cảnh vệ nói chung và Trung đoàn 600 nói riêng tiếp tục thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, các đoàn khách quốc tế và các sự kiện đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh mới, nhiệm vụ ấy đặt ra yêu cầu ngày càng cao về dự báo tình hình, phối hợp lực lượng, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong mọi tình huống.
Nhưng dù phương tiện, phương án và yêu cầu công tác đã thay đổi, những bài học Bác để lại cho lực lượng Cảnh vệ vẫn còn nguyên giá trị: giữ bí mật, không chủ quan, không ngừng học tập, rèn luyện, đặt nhiệm vụ lên trên hết. Với người lính Cảnh vệ, làm tốt nhiệm vụ nhiều khi có nghĩa là đứng phía sau, không xuất hiện trong khuôn hình chính, không có những lời phô trương, nhưng bảo đảm để mọi sự kiện diễn ra an toàn, trang nghiêm, trọn vẹn.
136 năm sau ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhắc đến những người lính Cảnh vệ bên Người là nhắc đến một truyền thống được xây bằng công việc cụ thể, bằng kỷ luật nghiêm ngặt và bằng những kỷ niệm sâu nặng với Bác. Từ tám cái tên Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi; từ Tiểu đoàn 600 do Bác đặt tên; từ câu chuyện “Để Bác gác cho” trong một đêm ở chiến khu, có thể thấy rõ một điều: người lính Cảnh vệ không chỉ canh giấc ngủ cho Người, mà còn tự canh giữ phẩm chất của mình để xứng đáng với niềm tin Người đã trao.