Bởi một tội nhân sau khi hoàn tất thời gian thụ án (bao gồm cả thời gian thử thách) sẽ lại trở thành một người bình thường, nghĩa là một công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Quá trình này thường được biết đến với tên gọi "hoàn lương".Hoàn lương nghe thì gọn hơ như vậy, nhưng thật ra thì đó là một con đường vạn lý.
Dưới chế độ phong kiến, trong bộ "Quốc triều hình luật" (luật Hồng Đức) một bộ luật hình hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta dưới triều Lê sơ, có qui định rõ các tội nhân, ngoài những hình phạt chính (ngũ hình) như: xuy, trượng đồ, lưu, tử-tức là hình phạt bằng roi, gậy, lao động khổ sai, lưu đày và tử hình. Tội nhân còn phải chịu phụ hình như thích chữ vào mặt, vào cổ. Sự nghiệt ngã ở đây là ở chỗ, xuy, trượng, dù có làm tội nhân bầm dập, đau đớn nhưng rồi cũng có lúc lành, đồ, lưu, dù có làm tội nhân mệt nhọc thể xác thậm chí suy kiệt về tinh thần, rồi cũng có lúc họ hồi phục. Nhưng những dòng chữ họ mang trên mặt khiến cho họ phải điếm nhục, tủi hổ suốt cuộc đời.
Ngày nay, các bộ hình luật hiện đại (nói chung) đều được xây dựng trên cơ sở "tôn trọng quyền con người", nhấn mạnh vào yếu tố, giáo hóa, cải tạo tội nhân hơn so với yếu tố răn đe, trừng phạt. Chính vì thế, một số hình phạt như xuy (đánh bằng roi), trượng (đánh bằng gậy), đã bị bãi bỏ hoàn toàn, thậm chí một số nước, còn tiến hành bỏ cả án tử hình, luôn khuyến khích phạm nhân tích cực cải tà, qui chính để nhanh chóng trở về làm người lương thiện. Trên các phương tiện truyền thông chúng ta có thể bắt gặp không ít những tấm gương của những tội nhân dám bước qua mọi định kiến, không những để tiếp tục hội nhập với cộng đồng mà còn trở thành những người thành đạt về mọi mặt, trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội.
Ở một trường hợp khác, thì thời gian qua, trên một số phương tiện thông tin đại chúng có đưa tin về một nhân vật có tên là Dũng K cơ. Ông ta nguyên là phạm nhân của trại cải tạo Phú Sơn 4 (thuộc V26-Bộ Công an). Lĩnh mức án 11 năm tù cho tội danh cướp có vũ trang, Lê Văn Dũng (tên thật của Dũng K cơ) đã phấn đấu để được trả tự do sau 6 năm ăn cơm tù, mặc áo số.
10 năm sau khi ra tù (từ năm 2000), từ một phạm nhân, vừa cởi bỏ được bộ áo số, gần như chỉ có hai bàn tay trắng là tài sản, để trở thành một doanh nhân khá nổi tiếng ở Thái Nguyên. Với chủ sở hữu của một cơ sở sản xuất tranh đá quí khá qui mô và một vườn cây cảnh trị giá hàng chục tỷ cùng nhiều bất động sản có giá trị lớn, trong phòng khách công ty Dũng-Tân (công ty gia đình anh ta) là những bức ảnh cỡ lớn, trong đó doanh nhân Lê Văn Dũng, mặt sáng ngời hãnh tiến chụp chung với một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên.
Nếu coi những điển hình tích cực nêu trên như một hiện thực sinh động, như một bức tranh hoàn mỹ đại diện cho quá trình trở lại với cuộc sống của những người đã từng là tội nhân thì thực ra đó mới chỉ là một nửa của bức tranh có hai màu sáng-tối. Nhất là trong điều kiện, những cựu tội nhân đang sống trong một môi trường đạo đức, ảnh hưởng sâu sắc bởi những dư âm ngàn năm của lễ nghĩa Nho gia, như nước ta (chẳng hạn), thì có khi sự phá sản về kinh tế còn có cơ làm lại, chứ sự "phá sản" về đạo đức, uy tín, trong không ít trường hợp sẽ vĩnh viễn "khai tử" cho nhân cách của cá thể đó trước cộng đồng.
Nếu như có một điều tra xã hội học, khảo sát trên tất cả các đối tượng mãn hạn tù, xem có bao nhiêu người thực sự hoàn lương, thực sự hòa nhập được với cộng đồng, rất có thể đó sẽ là một con số khiến cho nhiều người phải giật mình. Mặt khác, bản thân từ "hoàn lương" chẳng qua cũng chỉ là một sự định danh mang tính hình thức, bởi lẽ, xét ngay ở nội hàm của khái niệm "tội phạm" thì hành vi này có thể được gây ra bởi sự cố ý, hoặc vô ý.
Nếu là một sự vô ý thuần khiết thì hẳn nhiên, phạm nhân đó, trước, trong và sau khi phạm tội vẫn thuần khiết là một người lương thiện. Ít nhất là xét từ góc độ đạo đức. Vậy thì trong trường hợp này, cụm từ cần được thay thế nên là "hòa nhập với cộng đồng". Sự hòa nhập, chỉ một câu gọn hơ vậy thôi, nhưng để làm và làm được là cả một con đường gập ghềnh, gian nan. Chứ không đơn thuần như một số bài viết nêu gương người tốt, việc tốt, khái quát cả một chặng đường đầy nhọc nhằn, khốn khó bằng những tính từ bóng bẩy và to tát. Điều đó, khiến người ta dễ chỉ thấy những đỉnh cao chói lọi, mà quên đi rằng nhân gian còn có bao nhiêu những mảnh đời khuya khuắt.
Đối diện với tôi là anh Hoàng Văn Tập. Với người sơ giao, khó có thể biết người đàn ông gầy gò, khắc khổ này mới ngoài tuổi tứ thập. Gần hai chục năm trước, chàng binh nhất Hoàng Văn Tập, chiến sĩ thuộc một đơn vị trinh sát Quân khu I, trong một va chạm ngoài ý muốn, đã lỡ tay đánh vào chỗ phạm khiến một đồng đội (đồng thời là một người bạn tập của anh) bị tử vong.
Tội danh ngộ sát, khiến anh bị tòa án quân sự khu vực I, kết án 6 năm tù, thụ án được 4 năm thì anh được ân xá vì có thành tích cải tạo tốt. Hôm nhận được quyết định phóng thích, được trở về gia đình, làng xóm, vui như mở cờ trong bụng. Anh đâu ngờ, những thử thách khốc liệt của cuộc "hội nhập" đang còn chờ mình ở phía trước. Bà con làng xóm thì cơ bản đều cảm thông chia sẻ, vì đầu làng, cuối xóm, bản chất ai thế nào họ cũng đều biết cả, tất nhiên sự e ngại, xì xèo cũng không phải là không có, bởi cái danh xưng nghiệt ngã "thằng tù" không phải ai cũng có đủ bản lĩnh và sự độ lượng để bình thường hóa.
Tuy nhiên những khó khăn anh phải đối mặt lại đến từ phía, lẽ ra anh phải nhận được sự tương trợ, giúp đỡ nhiều nhất. Ngay từ chuyến đi cá giống (nghề mưu sinh truyền thống của gia đình anh), trong cái tuần tự do đầu tiên ấy, anh đã suýt gặp "nạn". Anh kể:
- Hôm ấy, tôi cùng mấy người bạn nữa đi cá giống về gần ngã ba Bờ Đậu thì trời đã tối nhọ mặt, tự nhiên thấy lố nhố bốn, năm người đi xe máy vòng qua đầu xe anh, rồi bất ngờ phanh kít lại, soi đèn pin thẳng vào mặt mình.
Chưa kịp hỏi han gì đã thấy một người, trông hơi nhỏ con, tung chân định đá vào mặt anh, lúc đó anh vừa kịp xuống xe. Vốn lính trinh sát đặc nhiệm, anh vừa né người tránh cú đá, vừa tiện tay rút cây đòn chống ra định chơi lại, vì thực tình anh nghĩ lúc đó mình gặp cướp. Thì lập tức, người nhỏ con vừa tấn công anh lúc nãy, tay phải lòn ra thắt lưng móc ra một khẩu súng ngắn chĩa thẳng vào mặt anh, tay trái rút từ túi áo một miếng giấy vuông vuông, rồi cao giọng nạt nộ:
- Công an đây, yêu cầu theo ngay chúng tôi về ủy ban xã làm việc.
Về đến trụ sở ủy ban mới biết, người nhỏ con định đá anh lúc nãy là anh Đức Công an huyện Phú Lương về nằm địa bàn. Mấy người đi theo đều nằm trong Ban Công an xã cả. Cái lí do mà họ bảo là "về ủy ban khắc biết" chỉ là những câu hỏi xoay quanh việc, vì sao anh chậm nộp cho địa phương giấy giới thiệu trả tự do của nơi giam giữ anh trước đó.
Sau khi anh giải thích là anh đã đưa cho anh Nhất, Phó ban Công an xã, là người hàng xóm của anh, anh Nhất nói là sẽ cầm ra ủy ban nộp giúp, vậy nếu có chậm trễ gì thì phải hỏi anh Nhất, chứ không phải do anh. Thì họ lại xoay sang hỏi anh nhiều câu vụn vặt linh tinh khác, và mồm miệng ai cũng sặc sụa mùi rượu. Hỏi chán, họ bắt anh cởi hết quần áo ngoài ra để kiểm tra xem có hình xăm trong người không. Quay quắt mãi đến tận hơn 1 giờ sáng, mới tha cho về.
Câu chuyện dù xảy ra đã lâu, nhưng trong đôi mắt âm trầm của người đàn ông thiếu may mắn đó, vẫn lóe lên những tia giận dữ:
Hôm ấy về đến nhà cũng gần sáng, mọi người đã đi ngủ hết, chỉ còn bà mẹ tôi. Lục tục dậy mở cửa và sắp cơm cho tôi, tôi phải nói thác bà cụ là bị hỏng xe nên về muộn và đã ăn cơm dọc đường. Thực ra thì suốt từ trưa đã có tí gì vào bụng đâu. Nhưng lúc ấy, cũng chẳng có bụng dạ nào mà ăn uống nữa. Nói thật với anh, đợi bà cụ đi ngủ, tôi đã xuống bếp, ôm con dao thái chuối, định ra "xử' chúng nó, rồi thì muốn đến đâu thì đến. Nhưng nói đúng là khi nhìn lại thấy mâm cơm để phần tôi mà mẹ tôi vừa sắp ra là tôi lại nghĩ lại đấy. Mâm cơm đạm bạc lắm. Chỉ có bát cá kho tương, đĩa rau muống luộc với mấy quả cà thôi. Mà tôi nghĩ thế nào thương mẹ tôi quá, lại cất dao vào khe Trạn bát, rồi trèo lên gường ngủ. Nhìn căn nhà cấp bốn trống tuềnh, trống toàng, một góc nhà kê chiếc bàn thờ, trên đó có tấm ảnh của một chàng trai rất trẻ.
Anh giải thích, đấy là bàn thờ chú út sinh năm 1978, cũng mới mất được chưa đầy năm nay. Nhà nghèo, theo bạn, lang bạt đi làm quặng thổ phỉ miệt Tuyên Quang, rồi bị nhiễm độc Asen, điều kiện chữa trị không có đành phải ngậm ngùi yểu mạng. Rời nhà anh Tập, tôi cứ bâng khuâng mãi. Ra tù đã gần hơn mười năm (từ năm 1995), nhưng không biết đến bao giờ hạnh phúc mới mỉm cười với người đàn ông này.
Qua câu chuyện với anh, tôi hiểu anh là một người có nghị lực, có năng lực thực tiễn và đầy lòng tự trọng. Nếu như, không có sự kỳ thị và những định kiến hẹp hòi, thì biết đâu, số phận anh có thể sẽ khác đi chăng?
Đối với những nhân vật như trên và những người tương tự, mặc dù số phận đẩy đưa họ vào vòng lao lý, mỗi người một đường, và cuộc trở về của họ cũng tương tự như vậy, mỗi người một ngả. Song có một điểm chung là họ đều là những người có bản lĩnh. Những thử thách nghiệt ngã của số mệnh không khiến họ thay tâm đổi tính.
Anh Tập kể là sau khi ra trại, không ít lần các đối tượng xấu đến quyến rũ, lôi kéo vào những chuyện bất lương, và cũng không phải không có lúc các anh đã chao đảo ngả nghiêng. Bởi không phải ai cũng có được "bản lãnh" như Dũng K cơ, "phi" thẳng lên xin gặp lãnh đạo Tỉnh ủy, để trình bày kế hoạch hoàn lương của mình. Những gì anh ta đạt được đã chứng minh chúng ta có môi trường pháp lý khá thuận lợi để hỗ trợ cho những người như họ.
Song, nhiều khi hiện thực trên văn bản mới là hiện thực thứ nhất. Bởi với một bộ hồ sơ "có vết" như vậy, đôi khi tìm được một chân gác cổng đã khó, chứ nói gì đến một chỗ làm ổn định trong một công sở nào đó, thì quả là như… đường lên trời vậy. Chính vì vậy, đã có không ít người, ra trại chưa được bao lâu đã lại quay về để mặc vào bộ quần áo "ngựa vằn", vừa mới cởi ra.
Tiếp xúc với chúng tôi, doanh nhân Lê Văn Dũng cũng cho rằng, đối với một phạm nhân mới ra trại, điều quan trọng nhất là phải có một nghề nghiệp ổn định để mưu sinh, một môi trường lao động lương thiện để sống và làm việc. Được biết, từ sau khi được trở về với cuộc sống, đặc biệt sau khi đã đạt được một số thành tựu trong lĩnh vực kinh doanh, vợ chồng anh (vợ anh cũng từng là một phạm nhân cùng trại với anh), đã tham gia những hoạt động xã hội, từ thiện như: bảo trợ cho nhà trẻ trại giam Phú Sơn, nhận nuôi một số cháu, con của những phạm nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn...
Anh cũng hoàn toàn đồng tình, khi tôi nêu ý kiến rằng, với những điều kiện của mình, nếu anh xây dựng một cơ sở gì đó, ví như một trung tâm dạy nghề hoặc giới thiệu việc làm chẳng hạn, thì sự trở về của những người từng có lúc cùng cảnh ngộ với vợ chồng anh có thể sẽ cộng được thêm biết bao điểm thuận.
Sự trở về với cuộc sống của những người từng lầm lỡ, rõ ràng chưa bao giờ là con đường trải thảm hoa hồng. Song nếu như những định kiến về đạo đức-văn hóa, bớt đi sự khắt khe, nghiệt ngã. Thêm nữa, là những chế độ, chính sách cụ thể và đầy tính khả thi, thì những chủ trương chính sách đầy tính nhân văn của Đảng, nhà nước mới có thể thực sự đi vào cuộc sống. Và con đường hoàn lương của những người đang trở lại với cuộc sống, liệu có còn là con đường gập ghềnh trắc trở