"Lời chào cao hơn mâm cỗ", "Người thanh tiếng nói cũng thanh"..., có biết bao câu thành ngữ để diễn tả vẻ đẹp thanh lịch, hào hoa của người Hà Nội, đặc biệt là tiếng nói của người Hà Nội, một phương ngữ chuẩn xác, nhẹ nhàng, thanh tao mà lịch lãm. Tại Hội thảo khoa học quốc tế "Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hoà bình" diễn ra tại Hà Nội từ ngày 7 đến 9/10 do Ban Tuyên giáo TW chủ trì, rất nhiều giáo sư, nhà ngôn ngữ học đã mang đến hội thảo những nghiên cứu mới, độc đáo và sâu sắc về tiếng Hà Nội.
Tại hội thảo hôm nay, Giáo sư Đinh Văn Đức - Đại học Quốc gia Hà Nội đã đặt ra một câu hỏi chứa nặng ưu tư: "Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, một câu hỏi lại đặt ra với những người yêu mến Hà Nội. Đó là hơn nửa thế kỷ qua, cư dân Hà Nội với những thay đổi to lớn, do những chuyển biến lịch sử, vậy thì liệu khái niệm tiếng Hà Nội có còn tồn tại không và nếu có thì nên nhận diện nó ra sao".
Câu hỏi của Giáo sư Đinh Văn Đức vừa giàu cảm xúc, vừa phảng phất lo lắng của những người yêu mến và tự hào về Hà Nội như thể nhớ tiếc một cái gì đó vừa đẹp đẽ của một thời đã đi qua khó trở lại. Tiếng Hà Nội là khái niệm hình thành một cách tự nhiên, thực tế, cũng như tiếng xứ Nghệ, tiếng Sài Gòn.
Theo đó, tiếng Hà Nội được mọi người hiểu một cách ước lệ như là ngôn ngữ của chốn thị thành (đô thị Hà Nội), nhưng nó vẫn là một bộ phận không thể tách rời ngôn ngữ của cư dân đồng bằng sông Hồng. Giáo sư Đinh Văn Đức coi tiếng Hà Nội là "một ốc đảo không xô bồ, phân biệt với ngôn ngữ những chốn khác".
Nét thanh lịch của thiếu nữ Hà Nội những năm 1970. Ảnh: K.Hà.
Vậy khởi thủy của tiếng Hà Nội là từ đâu? Trả lời câu hỏi này, Giáo sư Đinh Văn Đức cho rằng, thế kỷ XVIII là thời kỳ cực thịnh của chốn kinh kỳ (Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến), Thăng Long là nơi có nền kinh tế "trên bến dưới thuyền" mà hai lực lượng cư dân chính là thương nhân và thợ thủ công với các quần công và quần thương.
Dân cư bản địa (các làng sở tại) chắc không nhiều cùng với dân nhập cư ngày một đông, hình thành một cộng đồng mới. Trẻ em sinh ra, lớn lên, nói tiếng nói không phải của bố mẹ mang đến nơi quần cư mới mà chúng học được ngay từ cái cộng đồng chúng sống và do chính chúng tạo ra từ học lẫn nhau. Đó chính là khởi thủy của tiếng Hà Nội.
Nói cách khác, tiếng Hà Nội xuất hiện trong quá trình "bắt chước xã hội" của ngôn ngữ trẻ em, bắt đầu từ ngôn ngữ trẻ em, chứ không phải từ tiếng nói của người lớn nhập cư. Cũng theo Giáo sư Đinh Văn Đức, trong vài thế kỷ, sau những sôi nổi của giai đoạn "Kinh kỳ", Thăng Long trở thành tỉnh Hà Nội khi nhà Nguyễn dời đô vào Phú Xuân (Huế), đời sống đô thị ở đây chuyển biến chậm chạp, phương ngữ Hà Nội trở nên khá ổn định.
Nhưng từ cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp rồi hoà bình lập lại sau năm 1954, và ngay cả 10 năm sau chiến tranh (1975 - 1985), đến công cuộc đổi mới, thì những chuyển biến to lớn trong mọi mặt của đời sống Hà Nội đã ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến cơ cấu dân cư Thủ đô. Cũng từ đó ảnh hưởng đến các biến đổi ngôn ngữ, làm cho ta luôn có cảm giác, tiếng Hà Nội gốc đã biến mất, thay vào đó là thứ ngôn ngữ ngoại tỉnh pha trộn...
Tại hội thảo, Giáo sư Nguyễn Văn Khang (Viện Ngôn ngữ học) đã có những nghiên cứu khá thú vị về tiếng Hà Nội. Giáo sư cho rằng, tiếng Hà Nội mang những đặc điểm cơ bản của tiếng Việt toàn dân và vì thế, những người nói tiếng Hà Nội có thể giao tiếp với những người nói các phương ngữ tiếng Việt trên khắp miền của Tổ quốc mà ít gặp cản trở.Người nghe sẽ cảm nhận được giọng của người Hà Nội có phần "nhẹ" hơn so với các vùng khác.
Trước đây, người Hà Nội xưng hô "cậu", "mợ" và hiện nay là xu hướng xưng hô gọi "dì, thím, mợ" thành "cô", và "cậu" thành "chú". Giáo sư Nguyễn Văn Khang còn cho rằng: "Người Hà Nội là ai, khi các nhân tài đất Việt đổ về Hà Nội và theo sau là cả một gia đình, khi những người con trai, con gái từ các miền khác của Việt Nam về làm dâu, rể Hà Nội và sinh cơ lập nghiệp ở đây.
Kể từ khi xuất hiện nền kinh tế thị trường, dòng người đổ về Hà Nội ngày càng nhiều, người thì định cư ở đây, người thì đến rồi lại đi, rồi lại đến. Hằng năm có hàng triệu lượt người ra vào Hà Nội. Điều này đã giúp "quảng bá" tiếng Hà Nội, làm cho tiếng Hà Nội lan toả ra các vùng quê khác mỗi khi họ về quê".
Giáo sư Nguyễn Văn Khang đề xuất, cần có những đầu tư nghiên cứu về tiếng Hà Nội, một mặt để giữ lại tất cả những biến thể của tiếng Hà Nội, nhất là các thổ ngữ đang có nguy cơ mất đi, mặt khác để phát huy vị thế của tiếng Hà Nội mà tinh hoa là tiếng Thủ đô, góp phần làm giàu đẹp hơn truyền thống và bản sắc văn hoá của Thăng Long xưa