Sáng 14/3 cũng giống như mọi buổi sáng khác tôi dậy lúc 6h. Đêm qua chúng tôi thức và làm việc hơn 12h đêm với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Phạm Minh Chính để lo một kịch bản cho lễ hội du lịch Quảng Ninh 2012. Mệt nhưng vui vẻ hoan hỉ bởi một quyết tâm lớn là sự đổi mới cả nội dung và hình thức cho một lễ hội đã thành thương hiệu “lễ hội Hạ Long”.
6h15 có tiếng rung của điện thoại di động. Đầu dây đằng kia một tiếng nói hổn hển gấp gáp của nhà viết kịch Ngọc Thụ: “Bằng Thái ơi, anh Trọng Khôi mất rồi!”. Tôi quát to: “Cái gì?”. Rồi cả hai chúng tôi im lặng. Không dám nói thêm vì hiểu: NSND Trọng Khôi “đi” rồi. Biết là thế mà sao vẫn bàng hoàng? Chả nhẽ “ông trời” ác nghiệt đến thế ư? Tuần trước tôi cùng Giáo sư Hoàng Chương, NSND Tâm Chính tới Bệnh viện Bạch Mai thăm anh. Anh vui vẻ báo tin: “Mình vừa viết xong cuốn tự truyện về đời nghệ sỹ của mình…”. Thế mà bây giờ âm dương cách biệt.
Điều gì đặc biệt mà khiến cho sự ra đi của một nghệ sỹ không phải chỉ là những người làm nghề mà cả dư luận xã hội quan tâm? Từ người dân thường: em bé đánh giày, chị bán báo, bác chạy xe ôm, bà nội trợ, anh công nhân lò, chú Cảnh sát giao thông, cô bác sỹ… rồi đến các văn nghệ sỹ, các nhà chính trị, nhà báo, doanh nhân và các nhà lãnh đạo các cấp… đều ngỡ ngàng và kèm theo là sự tiếc nuối.
Thôi thế là “Nghị Hách” đi rồi. Ông Mông sơ rát ơi ông đi thật ư? “Hồn Trương Ba da hàng thịt” rời cõi đời ư?… Mỗi người nói một kiểu, thở than một kiểu.
50 năm trong cuộc đời làm nghệ thuật của mình, bằng tài năng, bằng sự ham đọc, bằng nghị lực vươn lên, NSND Trọng Khôi đã để lại một di sản “nho nhỏ” thôi nhưng cũng đầy đủ và tầm vóc lắm. Những vai diễn, những tấm Huy chương vàng trong nước và quốc tế, những bộ phim để đời, những cuộc liên hoan thể nghiệm sân khấu, rồi ở cương vị lãnh đạo Nhà hát Kịch Việt Nam, lãnh đạo Hội NSSK Việt Nam, những bài giảng cho sinh viên, những tham luận trong các cuộc hội thảo, những chuyến đi thực tế khắp ba miền đã tạo thành một thương hiệu Trọng Khôi.
Tài năng và sự cống hiến thì đã thế nhưng cuộc sống đời thường của anh thì đúng là một nghệ sỹ theo đúng đủ nghĩa của nó: cháy bỏng, hồn nhiên, hết mình.
Trọng Khôi sinh năm 1943 tại Hưng Yên, gia đình anh không có ai làm nghệ thuật, anh đã cùng với Doãn Hoàng Giang tìm đến sân khấu của Đoàn kịch thanh niên Hà Nội với các bậc hoạt động sân khấu lão thành: kịch tác gia Lộng Chương, nhà viết kịch Nguyễn Văn Niêm, nghệ sỹ Dịu Hương (chèo), nghệ sỹ Lê Tốn, Minh Mẫn, Bích Lân,…
NSND Trọng Khôi học khóa I Trường Sân khấu Điện ảnh Việt Nam.
Cái khóa vàng này được học chuyên gia Liên Xô và những bậc thầy các giáo sư hàng đầu của sân khấu Việt Nam. Để rồi họ ra trường bằng một sự kiêu hãnh tự hào: Doãn Hoàng Giang, Thế Anh, Đoàn Dũng, Ngọc Thủy, Ngọc Hiền, Doãn Châu, Lâm Tới, Trà Giang, Xuân Chính, Hà Văn Trọng, Nguyệt Ánh, Tú Mai…
Họ về Nhà hát Kịch Việt Nam và tất cả các nhà hát, các đoàn kịch trong cả nước. Họ là nòng cốt và điểm tựa cho các thế hệ diễn viên nghệ sỹ sau này.
Năm 1967, với tư cách là lớp đàn anh, NSND Trọng Khôi cùng các nghệ sỹ diễn viên khác khóa I tuyển chọn và cùng Trường Sân khấu Điện ảnh Việt Nam đào tạo khóa II, đó là lớp: Lê Hùng, Tất Bình, Anh Dũng, Tiến Đạt, Bằng Thái, Hoàng Mai, Quang Ngọc, Lan Phương, Đồng Mai, Văn Tỉnh, Hồng Dương, Lê Quang Phú, Mộng Thoa, Minh Tuyết, Ánh Tuyết, Hồng Loan, Văn Thiệu, Vân Hương,…
Chúng tôi không kể hết những gì mà nghệ sỹ Trọng Khôi và các anh chị diễn viên khoá I đã cùng các thầy cô nhà trường giúp đỡ chúng tôi để thành hôm nay.
Đời thường của NSND Trọng Khôi thì sao? Trước hết anh có một người vợ tuyệt vời là chị Bình và những đứa con trai xứng đáng mang cái tên ngộ nghĩnh “Kem mút”, “Kem chảy”. Chị Bình lo cho anh, cho con hết một cuộc đời để anh yên tâm rong ruổi và cống hiến cho nghệ thuật.
Với Đoàn Kịch Quảng Ninh, anh đã đạo diễn vở “Trước chấm phạt đền” (Tác giả Hoàng Long). Anh đã dạy nghề, dạy tiếng nói sân khấu ở các khoá năng khiếu đào tạo tài năng trẻ, anh từng ngồi làm giám khảo… bao giờ cũng ưu ái cho Quảng Ninh. Còn nhớ khi Đoàn Kịch Quảng Ninh diễn vở “Đôi mắt”, anh đóng vai Việt – anh thương binh mù, anh dẫn cả Nhà hát Kịch Trung ương xuống Quảng Ninh xem, động viên, trao đổi nghề nghiệp.
Anh mê sân khấu thế nào thì cũng mê bóng đá như vậy, vì thế ở Quảng Ninh anh chơi thân với Chung “vua” (thủ môn nổi tiếng của Than Quảng Ninh), anh coi Hùng A, Hùng B, Mầu, Hưng, Thông, Tòng, Uy, Vi, Mấm… như “thần tượng”. Trận đấu nào cứ có Than Quảng Ninh là anh có mặt, dù ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương hay đất Mỏ, anh cười sảng khoái và gào đến khản tiếng cho đội Than Quảng Ninh một thời.
Anh Khôi ơi, anh đi mất rồi. Có thể coi bài viết này là một nén nhang tiếc thương anh. Biết là anh sang thế giới bên kia lại gặp các bậc đàn anh nghệ sỹ khác, âu cũng là một điều an ủi ta coi như là một cuộc tạm biệt thôi. Anh luôn bên cạnh chúng em nhé
Quảng Ninh, ngày 15 tháng 3 năm 2012