Người viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người.
Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.
Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.
Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 15, trang 616).
Đó là những lớp người đã hy sinh xương máu để làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với sự tôn vinh, biết ơn, Đảng, Chính phủ, nhân dân cần có chính sách và các việc làm thích hợp để có sự đãi ngộ xứng đáng đối với những người có công đang còn sống và thân nhân những người đã hy sinh. Điều đó xuất phát từ đạo lý và truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Sinh thời, trong quá trình cùng với Đảng, Chính phủ lãnh đạo cách mạng và kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khởi xướng các hình thức tôn vinh và chính sách đối với người có công. Người đã gợi mở và lấy ngày 27-7 hằng năm trở thành ngày thương binh, liệt sĩ. Người nêu rõ: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Và: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất.
Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”. Người chỉ rõ: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.
Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách với người có công với cách mạng, sau ngày đất nước thống nhất, Đảng, Nhà nước ta luôn luôn quan tâm, thể hiện rõ quan điểm và thực hiện chính sách đãi ngộ thích đáng đối với người có công. Nghị quyết Đại hội VII của Đảng (6/1991) nhấn mạnh:
“Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng, coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng”.
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng, ngày 29/8/1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành hai pháp lệnh quan trọng: Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (gọi tắt là Pháp lệnh ưu đãi người có công) và Pháp lệnh phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Hai Pháp lệnh có hiệu lực và được thể hiện trong hệ thống các chính sách cụ thể với từng đối tượng có công. Cụ thể như Quyết định số 104/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến (trong thời gian từ 15/7/1950 đến ngày 30/4/1975); chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam...
Có thể nói, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và đồng bào cả nước đã chăm lo ưu đãi người có công với tất cả sự quý trọng, biết ơn và khả năng có thể. Chính sách với người có công không chỉ chăm lo đời sống vật chất, tinh thần mà còn tôn vinh, khen thưởng, ghi nhận công lao với những danh hiệu cao quý có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Chú trọng tìm kiếm và quy tập hài cốt các liệt sĩ về các nghĩa trang hoặc về quê hương. Tu bổ các nghĩa trang liệt sĩ, các di tích cách mạng, các tượng đài chiến thắng, nhà, bia công trình tưởng niệm, để làm tốt công tác giáo dục truyền thống và đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, thực hiện chính sách với người có công có ý nghĩa sâu sắc về chính trị, xã hội, đạo đức, đạo lý gắn liền với sự phát triển và sự trường tồn của dân tộc.
Hiện nay, trên cả nước có 8,2 triệu người có công đang được hưởng chế độ chính sách, khoảng gần 10% dân số. Còn phải tiếp tục giải quyết những tồn đọng trong các trường hợp không còn giấy tờ, không còn đồng đội để xác nhận, hoặc do hoạt động bí mật, đơn tuyến còn chưa được xác định. Những cán bộ được giao nhiệm vụ thực hiện chính sách với người có công đề cao trách nhiệm để không một ai bị lãng quên hay bị sai sót trong thực hiện chính sách. Rà soát lại việc thực hiện chính sách, sửa chữa những sai sót. Kiên quyết xử lý, khắc phục những biểu hiện vô cảm, tiêu cực trong việc thực hiện chính sách với người có công