Tối 16/6, tỉnh Thanh Hóa tổ chức lễ đón Bằng công nhận Thành Nhà Hồ là Di sản văn hóa thế giới. Nhân dịp này, Báo CAND xin giới thiệu vài nét về di sản này.
Khu Di sản Văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ, Kinh đô của nước Đại Việt (1398-1400) nằm trên địa phận huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách Thủ đô Hà Nội 150km về phía Nam theo QL1A.
Tổng thể khu di sản Thành Nhà Hồ có diện tích 5.234ha, được xây dựng vào năm 1397, gồm Thành Nội, La Thành và Đàn tế Nam Giao, rộng 155,5ha và được bao bọc bởi một vùng đệm 5.078,5ha. Vị trí của Thành được lựa chọn theo những nguyên tắc phong thủy trong một cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp giữa hai dòng sông Mã và Bưởi ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
So với kỹ thuật xây dựng kinh thành trước đó của người Việt, Thành Nhà Hồ vừa mang nét truyền thống bản địa, vừa thể hiện sự kế thừa các giá trị nhân văn cùng sự phát triển mới trong kiến trúc, công nghệ và quy hoạch đô thị trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Đó là việc lấy kiến trúc để thể hiện tư tưởng vương quyền theo kiểu Đông Á và ý chí cải cách xã hội theo xu thế thời đại vào cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV, theo đúng ý đồ của Tổng công trình sư và cũng là người đứng đầu đất nước lúc đó là Hồ Quí Ly.
Kỹ thuật xây dựng Thành Nhà Hồ là kết quả của sự kết hợp và sáng tạo các truyền thống xây dựng của cả Đông Á, Đông Nam Á và Việt Nam, trong đó, kỹ thuật xây dựng đá lớn là kết tinh trí tuệ và kinh nghiệm của không chỉ bất kỳ một nền văn hóa nào, tạo nên bước đột phá của công nghệ xây dựng. Thành có vòng Hoàng Thành bao quanh Hoàng cung của nhà vua, có vòng La Thành để bảo vệ toàn bộ cư dân của kinh thành.
Đặc điểm nổi bật của Thành Nhà Hồ là có bốn cửa thành và bốn bức tường được xây dựng bằng đá chắc chắn, uy nghiêm. Móng tường, tường thành, vòm cửa thành, đường đi, sân nền… đều sử dụng vật liệu đá. Kiến trúc thuộc loại quan trọng nhất của kinh thành như Nam Giao cũng đều sử dụng đá từ các bức tường, móng tường, đường đi lối lại đến giếng Vua…
Các khối đá xây tường Thành Nhà Hồ đa số là loại đá xanh rắn chắc có kích thước trung bình 2,2m x 1,5m x 1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2 x 1,7 x 1,5m và 5,1 x 1 x 1,2m, những khối đá lớn nhất nặng tới 26,7 tấn. Đây là thành tựu của kỹ thuật xây dựng đá lớn mà chưa kinh thành nào có được. Với nhiều kích thước khác nhau, chúng được xếp lên nhau theo phương pháp dưới to trên nhỏ và thu dần theo kiểu “thượng thu, hạ thách”.
Từng loại đá cũng được tính toán sử dụng hợp lý đối với từng vị trí khác nhau của kiến trúc: Móng tường thành, vòm cửa thành, tường thành thì dùng loại đá xanh rắn chắc; sân nền; đường đi được dùng các loại đá phiến; đá dăm và sỏi nhỏ thì được dùng để gia cố móng tường thành và lớp tường thành bên trong.
Đá xây dựng Thành Nhà Hồ được khai thác tại núi An Tôn, xã Vĩnh Yên; núi Xuân Đài, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc. Việc gia công đá cũng được tính toán kỹ để vừa tiết kiệm, vừa hợp lý và đạt hiệu quả kỹ thuật cao. Những loại đá xây vòm cuốn thì được làm nhẵn nhiều mặt, những viên xây tường thì gia công nhẵn ở mặt được ráp với nhau. Còn các mặt tiếp xúc với đất và các loại vật liệu khác thì không gia công, là nhẵn. Làm như thế vừa tiết kiệm lao động vừa tăng độ liên kết giữa đá và các loại vật liệu khác.
Việc vận chuyển và đặc biệt là kỹ thuật xây xếp những khối đá khổng lồ đó là một sự kỳ công gấp bội. Các nguồn tư liệu dân gian và điều tra thực địa đưa đến giả thiết về một quy trình vận chuyển các khối đá khổng lồ này về nơi xây dựng là một quy trình được tổ chức hết sức hợp lý và đầy sáng tạo.
Trước hết, một con đường lát đá tương đối nhẵn và phẳng trên một nền đất đầm nện kỹ, được xây dựng (có thể là đường Cống Đá). Dấu vết con đường này hiện còn một phần ở thôn Tây Giai ngoài cửa Tây Thành Nhà Hồ. Trên con đường đó, người thợ xây dựng một “băng chuyền” thủ công bằng các trục lăn (hay con lăn) và bi đá. Các trục lăn có thể được làm bằng các cây gỗ rắn chắc.
Các bi đá được làm bằng đá xanh (đường kính 20cm), hiện còn tìm thấy rất nhiều quanh khu vực Thành Nhà Hồ. Các con lăn và bi đá có thể được sắp đặt như một băng chuyền. Khi các khối đá nặng từ 10 tấn trở lên trượt trên hệ thống băng chuyền này, bi đá và con lăn xoay tròn tại chỗ. Sức kéo của người (với các khối đá nhỏ) và sức kéo của trâu, voi (với các khối đá lớn) đứng ở hai bên “băng chuyền” sẽ có thể dễ dàng di chuyển các khối đá nặng đến nơi xây dựng. Còn có thể có loại xe vận chuyển hữu hiệu nữa cũng dùng trâu hoặc bò kéo mà người địa phương gọi là “cộ” hiện vẫn được dùng để vận chuyển đá ở đây.
Để chồng xếp các khối đá khổng lồ thành những bức tường vững chắc cao tới hơn 10m, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thiết việc đắp bức tường đất bên trong thoai thoải theo hình bậc thang, kết hợp với kỹ thuật vận chuyển của con lăn và bi, sức kéo của voi, trâu và sức đẩy của con người đã giúp cho việc bẩy các khối đá chồng xếp cao dần lên tới độ cao hơn 10m. Các khối đá càng lên cao cũng được tính toán càng nhỏ dần đi.
Tại một vị trí tường thành có 5 lớp đá chồng lên nhau đang nổi trên mặt đất, có thể đo được bề dày của các lớp đá lần lượt từ dưới thấp lên cao như sau: Lớp thứ nhất cao 1,10m, lớp thứ hai cao 0,90m-1,00m, lớp thứ ba cao 0,80m, lớp thứ tư cao 0,60m, lớp trên cùng cao 0,35-0,40m. Các phiến đá được xếp so le nhau tạo nên các mạch có hình chữ công (I) và được khóa với các lớp đá bên trong bằng ngàm, làm tăng tính liên kết chịu lực với nhau, khiến cho các bức tường rất bền vững.
Kỹ thuật xây dựng cửa vòm, trong đó có Cửa Nam Thành Nhà Hồ với 3 vòm cửa liên tiếp cũng là một khía cạnh đáng lưu ý. Tương truyền, để xây được các cửa vòm cuốn to lớn, thợ xưa đã lấy đất đắp thành hình các vòm cửa để làm cốt. Sau đó, người ta xếp các khối đá xây tường và vòm cửa vào các vị trí đã định như kỹ thuật xây xếp tường thành. Sau khi được lấy hết lõi đất, các khối đá tham gia xây dựng vòm cửa với sức nặng đã tạo lực ép để đỡ nhau một cách vững chãi, kiên cố mà sức người không dễ gì công phá được. Nhờ thế, trải qua hơn 600 năm, các cửa vòm đều được giữ nguyên vẹn, bất chấp sự tàn phá của thiên nhiên và chiến tranh ác liệt.
Công trình Thành Nhà Hồ kỳ vĩ đã được tạo nên bởi khối óc sáng tạo của những người thiết kế và bàn tay tài hoa của những người thợ hồi đó. Từ nửa thế kỷ trước, L.Bezacier, một kiến trúc sư người Pháp đã viết: “Tòa thành này là một ví dụ độc đáo về việc sử dụng những khối đá vôi khổng lồ được đẽo gọt và lắp ghép một cách cực kỳ hoàn hảo” và “…Việc sử dụng đá để xây dựng lên một công trình đồ sộ như Thành Nhà Hồ là một hiện tượng đột khởi “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử kiến trúc Việt Nam”.
Các chuyên gia của Đại học nữ Showa (Nhật Bản) cũng đánh giá Thành Nhà Hồ là di tích kinh thành được kiến tạo bằng đá hùng vĩ nhất. Với sự hùng vĩ đó, ngày 27/6/2011, Thành Nhà Hồ đã được UNESCO chính thức công nhận là Di sản Văn hóa thế giới