Lê Phú An là bạn học cùng thời phổ thông với tôi. Anh xuất thân từ một gia đình trí thức giàu có ở Sài Gòn, bố là kỹ sư có tên tuổi, mẹ là bác sĩ. An rất giỏi về môn ngoại ngữ và tự nhiên nên ngay từ năm thứ nhất, anh đã nhận được học bổng của một trường đại học danh tiếng ở nước ngoài, rồi ra trường làm việc và sống trải nghiệm nhiều nước và các vùng lãnh thổ trên thế giới.
Năm 1995 tôi tình cờ gặp tại một vùng quê, cùng vợ con sống thanh đạm trong một căn nhà nhỏ ấm cúng ở ven rừng, cả nhà ăn chay trường không quan tâm thế sự, không phân biệt đẳng cấp sang hèn. Lê Phú An nói năng nhỏ nhẹ và sâu lắng như một nhà sư có tâm và có tầm. Anh nói: “Sống với thiên nhiên con người mới nghe được tiếng nói từ nội tâm của chính mình, vì trong cõi người ta, ai cũng sẽ lần lượt trở về với đất, hơn thua nhau để làm gì…”.
Thật tình lần đầu tiên gặp lại, tôi chưa nắm bắt được những dòng chảy đan xen trong tâm thức của anh, mặc dù tôi biết anh là người chín chắn luôn chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nhưng việc anh từ bỏ nền văn minh thành phố với cuộc sống đầy đủ tiện nghi để về rừng là điều hơi lạ, nhất là đối với một kỹ sư hàng hải đã trải nghiệm nhiều nơi trên thế giới.
Trên đời này gần như mọi người đàn ông, ai cũng đều mơ ước một sự nghiệp, tiền tài và danh vọng, họ xem đó như là một chỉ tiêu để đạt đến, không ít người đã chạy theo mô hình ấy như con thiêu thân bất chấp cả đạo lý.
Ngày trước và cho đến bây giờ, một bộ phận không nhỏ thanh niên tỉnh lẻ kiên quyết bám trụ thành phố, chấp nhận những cuộc hôn nhân không có tình yêu hoặc đánh đố nhân phẩm để tìm kiếm một công việc, miễn sao mình được hợp pháp trở thành công dân đại phố.
Còn anh, nhà cửa, tài sản nổi chìm của dòng tộc để lại ở Sài Gòn không thiếu, nghề nghiệp mang tính kỹ xảo vẫn còn chỗ trống dành cho người có kinh nghiệm và giỏi ngoại ngữ như anh. Vậy tại sao anh quyết định về rừng để sống với thiên nhiên sớm thế! Anh đúng hay anh sai?
Vào năm 1995 Lê Phú An vẫn còn là một trung niên trẻ khỏe sung sức, là con trai của một gia đình có cả cha lẫn mẹ “vừa hồng vừa chuyên” trong xã hội đương đại. Điều gì đã thay đổi số phận một con người như anh đến thế? Vào ngày đầu năm, tôi điện thoại hẹn gặp và phóng xe máy đến tận nhà. Nhân lúc chỉ có hai người, tôi bê hết sự kiện đời người của anh đặt lên bàn cà phê. Bên ngoài rừng núi lặng yên, bầu trời hong hong nắng thoang thoảng mùi thơm của hàng mai chiếu thủy nở trước Tết còn tỏa hương phảng phất.
Lê Phú An không nói gì, anh lặng lẽ pha hai tách cà phê phin, ngồi tựa lưng vào chiếc ghế mây cũ kỹ ở hiên nhà đã trải qua nhiều năm nắng gió. Chúng tôi nhìn những giọt cà phê từ từ nhỏ xuống, nhưng mỗi người theo đuổi suy nghĩ khác nhau. Lê Phú An mở nhạc Trịnh Công Sơn vừa đủ nghe, bài hát “Một cõi đi về” do Khánh Ly thể hiện nghe như lời dự cảm.
Ảnh minh họa.
Anh hướng tâm thức của mình vào ly cà phê đen đặc quánh, chậm rãi, nhỏ nhẹ như một nhà hiền triết: “Suy cho cùng, cuối đời của tôi và ông cũng giống như những giọt cà phê này. Để có một ly cà phê đúng với khẩu vị của mình, phải có nước sôi đủ độ nóng đổ vào bột nguyên liệu cà phê, phải yên lặng chờ đợi những giọt cà phê ngấm qua phin, đó là sự chắt lọc cuối cùng.
Người uống có thể thêm đường hay không tùy theo sở thích. Với những người có tí tuổi như chúng ta, sử dụng loại thức uống này không chỉ đơn thuần nhâm nhi hương vị núi rừng mà còn tận dụng thời gian chờ đợi để tịnh tâm suy ngẫm cuộc đời. Giọt cà phê mình đang sở hữu trên môi là sự kết hợp của đất trời và của lòng người.
Vào một quán rượu hay một quán cà phê mình có thể nhận ra những mẫu người và tính cách khác nhau. Rượu bia chỉ dành cho người quan tâm lớp vỏ bề ngoài, cà phê hoặc trà dành cho người có tâm hồn sâu lắng.
Quán rượu ồn ào, người uống rượu nói chuyện với nhau bằng miệng và bằng tay, thậm chí khạc nhổ bừa bãi xuống đất, người uống trà hay cà phê nói chuyện bằng tâm thức. Quán rượu bốc lên mùi mồ hôi con người, mùi cá thịt, câu chuyện trên bàn đậm đặc hỉ, nộ, ái, ố, mọi người thay nhau “đánh bóng” mình.
Quán cà phê được trang trí bằng tranh ảnh, cây lá du dương những bài hát nhẹ nhàng đi vào lòng người, câu chuyện thường mang tính học thuật, bàn thảo chuyện thăng trầm thế sự hoặc chia sẻ cho nhau sự trăn trở đời người.
Giá như những người quanh ta quan hệ với nhau bằng sự chắc lọc như giọt cà phê để tồn tại thì mừng biết mấy. Năm nay năm nhuận, lẽ ra Tết đã về từ tháng trước, nên hoa nhà và hoa rừng nở sớm, tuy nhiên hương sắc vẫn rộn ràng”.
Lê Phú An pha bình trà mới, tiếp tục câu chuyện: Trong lịch sử dòng tộc Việt Nam thời văn minh lúa nước, người Việt mình có câu tục ngữ nhằm động viên người lỡ vận và gần như đã trở thành chân lý “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”, đến bây giờ ngấp nghé nền văn minh điện tử vẫn còn giá trị tươi nguyên.
Thời bao cấp, con người sống bằng tem phiếu nên quá kham khổ, thiếu thốn. Đến khi Nhà nước mở cửa, một số lượng khá lớn gia đình có của ăn của để, vì vậy bố mẹ dồn hết tình thương yêu vật chất cho con như để bù đắp. Những gia đình mới phất lên này, gần như bao cấp toàn bộ cho con cái như tìm trường để kiếm một nghề tốt, lo dựng vợ gả chồng, lo nhà cửa và phương tiện đi lại, nhưng trái lại họ không chú ý hướng tâm hoặc tham vấn cho con cái về tinh thần trách nhiệm chia sẻ công việc hay kỹ năng sống độc lập…
Trước những tài sản kếch sù đang sở hữu không phải công sức chính mình bỏ ra, dần dần con cháu họ đã quên đi truyền thống gia đình. Thực ra, nền tảng của một gia tộc là tri thức chứ không phải tiền bạc, lịch sử Việt Nam chưa có trang nào nói về một gia tộc để lại nhiều tiền. Tôi xuất thân trong một dòng tộc tạm gọi là đầy đủ về tri thức lẫn của cải, nhưng bố tôi vẫn động viên tôi ra nước ngoài để trải nghiệm. Khi ở ngoại quốc, sống chung với các bạn đủ màu da mới nhận ra sự bao cấp của một gia đình chỉ làm cho con cháu họ trở thành “thú cưng, hay một loại cây kiểng”.
Để có được một quốc gia giàu mạnh, ở một số nước từ gia đình, trường học đến luật pháp gần như trang bị cho sinh viên ra trường như một sản phẩm cuối cùng đầy đủ về chất lượng, mẫu mã có thể hội nhập ngay với thương trường trong và ngoài nước. Và để hoàn thiện mẫu người có trách nhiệm với bản thân và đất nước, họ đã có một số quy định khá nghiêm ngặt: Đối với học sinh khi tốt nghiệp trung học đều phải tự thiết lập phác đồ hành trình cuộc đời, tiếng Anh gọi là Road Map, trong dự thảo kế hoạch dài hạn này, học sinh phải tự mình xây dựng được biểu đồ tồn tại theo các chỉ số thời gian và chi phí tiền bạc.
Mục đích của Road Map nhằm định hướng thế hệ trẻ hình thành những công dân tương lai có trách nhiệm. Đến khi lập gia đình, chúng sẽ chủ động chọn bạn đời và chủ động nguồn tài chính trong hôn lễ tổ, cha mẹ chỉ là khách mời. Vì thế ở các nước công nghiệp hiếm có nhiều thanh niên ngồi ở quán cà phê hay đại lý Internet suốt ngày, chưa nói là quán nhậu hay vũ trường ăn chơi thâu đêm suốt sáng. Họ biết quý đồng tiền do công sức và trí tuệ chính họ kiếm được.
Tôi đưa các con tôi trở về thiên nhiên với cuộc sống đạm bạc. Hai vợ chồng cố gắng tải hình ảnh núi rừng, cây cỏ, vật nuôi vào tâm thức các cháu để hình thành tính cách con người vừa có tình yêu thiên nhiên vừa đọng lại ký ức tuổi thơ trước khi về hội nhập thành phố.
Con người ta không thể yêu đất nước quê hương khi không hiểu về cội nguồn dòng tộc, không hiểu lịch sử thăng trầm của cả chiều dài đất nước. Con người ta không thể giữ tài sản của tiền nhân để lại khi không hiểu ngôi nhà mình đang sở hữu hôm nay có được từ mồ hôi trộn với nước mắt của bố mẹ. Và con người ta không thể nhận ra hồn nước khi đứng nhìn rừng chiều biên giới hay các di tích của cha ông để lại mà lòng mình vô cảm.
Lê Phú An dẫn tôi đi thăm vườn cây xanh của nhà. Dọc theo đường biên, những cây ngọc lan đường kính gần 30cm tỏa bóng mát rượi. Tiết trời đang chuyển sang xuân, hoa ngọc lan nở rộ thỉnh thoảng rơi xuống đất mang theo mùi hương thẳng đứng, ở sát hiên nhà hàng mai chiếu thủy nở hoa trắng li ti. Cả hai mùi hương ngọc lan và chiếu thủy quyện lại thơm phức bao trùm cả không gian yên tĩnh mà không ít người thừa tiền mong đợi.
Chúng tôi dẫn nhau ra rừng, nhưng thực ra đây là rừng bạch đàn do chính tay vợ chồng anh trồng để giữ độ ẩm cho đất, trên những ngọn cây bạch đàn cao vút có hàng chục con cò trắng vươn cổ ngơ ngác chờ bầy, bóng cò thấp thoáng trong vườn như báo hiệu đây là một trong những nơi an bình không có kẻ thù rình rập.
Lê Phú An không nói gì, có lẽ anh muốn tự tôi tìm ra chân lý cuộc sống khi dạo trong vườn rừng tĩnh lặng để tự nhận ra rằng ở ngoài khuôn viên nhà anh hằng ngày đang diễn ra sự hơn thua, thù ghét, phân biệt sang hèn thì ở đây hoa vẫn nở, cây lá vẫn xanh, bầu trời vẫn lồng lộng và cuộc sống của người, của thú hoang dã vẫn tồn tại yên bình.
Chia tay anh, tôi vào gian thờ tự của gia đình đốt 3 cây nhang tưởng nhớ dì dượng Năm, bố mẹ đẻ của anh, những người có học hàm học vị một thời cống hiến cả tuổi xuân ra Bắc vào Nam, giữ gìn bờ cõi cho non sông gấm vóc. Khi tiễn tôi ra cổng, vợ anh nói nhỏ nhẹ: “Không có con đường đi đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường mình chọn để đi, anh Đại nhỉ?”.
Trên đường về hoa rừng nở rộ, gió xuân rập rờn thổi trên chòm cây kẽ lá, trong tâm thức tôi còn lãng vãng lời giải thích của anh: “Trong cõi người ta, ai cũng sẽ lần lượt trở về với đất, hơn thua nhau để làm gì?”…