Đúng như mong đợi, đã có nhiều ý kiến nhìn nhận về nền điện ảnh Việt Nam, dù trái chiều, nhưng đều mong muốn cho sự phát triển. Là đại diện nước ngoài đầu tiên, TS. Aruna Vasudev, Chủ tịch Mạng lưới phát triển điện ảnh châu Á (Netpac) đã dành những lời ngợi ca điện ảnh Việt Nam, bằng những ấn tượng và xúc động mạnh mẽ khi xem các phim làm về chiến tranh như “Cánh đồng hoang” dẫu xem cách đây 20 năm.
Bà cũng nhắc tới các bộ phim của Lê Hoàng như “Gái nhảy”, “Ai xuôi vạn lý” phản ánh sự thay đổi của Việt Nam sau chiến tranh. “Thương nhớ đồng quê”, “Cô gái trên sông” của Đặng Nhật Minh cũng phản ánh sâu sắc cả quá khứ, cũng như trong quá trình đổi mới của Việt Nam. Sau giai đoạn đầu đổi mới, có 3 phim lớn sản xuất tại Pháp về đề tài chiến tranh Việt Nam là “Đông Dương”, “Điện Biên Phủ”, “Người tình” đã thu hút nhiều khán giả Pháp nhất cho đến thời điểm đó.
Vì thế, bà cho rằng, LHPQT Hà Nội 2012 sẽ không gặp khó khăn trong việc thu hút khán giả và mong rằng, những người trẻ không chạy theo yếu tố thị trường, giải trí mà tiếp tục làm phim có chất lượng để LHPQT tới, Việt Nam sẽ giới thiệu những bộ phim chiến tranh dưới góc nhìn khác của mình.
Bà Heneriko Jeannette Paulson, Chủ tịch Diễn đàn điện ảnh châu Á-Thái Bình Dương cũng nhắc đến các bộ phim Việt Nam tiêu biểu, quay ít cảnh, thoại ít nhưng thể hiện nội tâm từ ánh mắt, dáng đi, làm xúc động người xem: “Mê thảo thời vang bóng”, “Chiến thắng Điện Biên Phủ”, “Cánh đồng hoang”, “Bao giờ cho đến tháng Mười”... với những tên tuổi Đặng Nhật Minh, Bùi Đình Hạc... làm nên những dấu mốc điện ảnh Việt Nam.
Bà cũng mang đến hội thảo một ký ức đẹp: tại một LHPQT, có 1 rạp chiếu phim về chiến tranh Việt Nam, 1 rạp chiếu về chiến tranh ở Mỹ. Kết thúc phim, các khán giả đã đổi rạp cho nhau và 2 nhà làm phim ôm nhau. Đó là sức mạnh của các bộ phim, vì thế, cần đưa ra nước ngoài để giới thiệu các bộ phim mang tính nhân văn.
Trong khi các nhà điện ảnh thế giới dành những lời khen ngợi điện ảnh Việt Nam, thì các nhà làm phim Việt Nam, với con mắt người trong cuộc, lại không lạc quan đến thế. Không chỉ nhà biên kịch Trịnh Thanh Nhã cho rằng, tính nghiệp dư hóa trong các phim “mì ăn liền” đã ảnh hưởng đến điện ảnh Việt Nam, đạo diễn Lê Hoàng, cũng đầy trăn trở: Có 2 điều nổi trội trong thời kỳ đầu đổi mới là sự phân chia thành 2 “phe” phim thương mại và phim nghệ thuật. Cho đến tận bây giờ vẫn còn tình trạng công kích lẫn nhau.
Và điều mà vị đạo diễn này gửi gắm là tâm sự thật lòng: Trong cuộc tranh luận phim thương mại và nghệ thuật, người nghệ sĩ nào cũng mong tác phẩm của mình đạt đến đỉnh cao. Hãy nhìn vào sự phát triển của điện ảnh tư nhân và mừng vì họ phát triển nhanh do được mạnh dạn đầu tư cao, hãy tin vào họ: Phim “Scandal” đầu tư 9,4 tỷ, thu về 26 tỷ và phim “Hotboy nổi loạn” được đầu tư 7 tỷ, đã thu về 19 tỷ. Không có nền điện ảnh nào phát triển nếu không được công chúng trong nước công nhận.
Đạo diễn Bùi Tuấn Dũng cũng bày tỏ: Làm phim ở Việt Nam có nhiều khó khăn, không được hoàn toàn độc lập; hầu hết các phim nặng tính giải trí, mà nhẹ vấn đề đặt ra. Làm thế nào để có phim hay, dự LHPQT.
Trước những ý kiến của các nhà điện ảnh trong nước, ông Philip Cheah, nhà phê bình phim, nguyên Giám đốc LHPQT Singapore nhấn mạnh: Cần thêm sự tự do và giảm bớt sự lo lắng là thông điệp tôi muốn gửi đến các bạn!
Đưa ra hướng phát triển cho điện ảnh Việt Nam bằng việc xuất khẩu phim, đại diện của UNIFRANCE cho rằng: Điều quan trọng là Việt Nam cần mời các đạo diễn nghệ thuật của các LHPQT đến LHP của Việt Nam, để họ biết được điện ảnh Việt Nam và mời phim nào dự tham gia LHP của họ; cần tổ chức các LH chuyên về phim ở nước ngoài, giới thiệu điện ảnh Việt Nam ở nước ngoài, mời đến mua.
Điều thứ 2 là đồng sản xuất, hợp tác với nước ngoài vì đã có nhiều thành công. Quĩ Phương Nam của Pháp đã giúp hỗ trợ các đạo diễn và phát hành. “Chơi vơi” và “Bi, đừng sợ” đã được tham gia vào LHP Canes và đã đáp ứng các tiêu chí của LHP.
Kinh nghiệm phát triển điện ảnh của Hàn Quốc 10 năm qua với những bước tiến thần kỳ đã được các nhà điện ảnh xứ Kim chi chia sẻ, để các nhà quản lý, các nhà điện ảnh Việt Nam tham khảo vì 2 nước có nhiều nét tương đồng: Đó là qui định bắt buộc các rạp phải chiếu phim trong nước 146 ngày/năm, sau còn 73 ngày, vì chịu áp lực từ Hiệp định thương mại tự do, đã có ý nghĩa lớn để bảo vệ phim nội phát triển: từ 19% thị phần phim nội nay là 50% với doanh thu 180 triệu USD.
Điều nữa là công nghiệp hóa điện ảnh, nên Hàn Quốc đã có những nhà sản xuất phim và phát hành hiện đai; chú ý phát triển các cụm rạp có qui mô lớn bằng việc phối hợp với nhiều quốc gia; trình độ nhân lực điện ảnh được nâng cao với các chương trình đào đạo tầm cỡ quốc tế