- Cựu phụ tá của Tổng thống Donald Trump bị kết tội
- Tổng thống Donald Trump muốn chấm dứt cuộc điều tra về Nga
- Thượng đỉnh NATO: Tổng thống Donald Trump đã đạt được mục tiêu?
Thỏa thuận bào chữa
Trong một phiên tòa ngày 21-8, cựu luật sư riêng lâu năm của ông Trump là Michael Cohen đã thừa nhận 8 tội danh liên quan tới trốn thuế, gian lận ngân hàng và vi phạm quy tắc tài chính tranh cử. Trong đó, tội danh được cả thế giới chú ý của ông là “vi phạm quy tắc tài chính tranh cử”, bởi nó được cho là có liên quan trực tiếp tới ông Donald Trump.
Cụ thể, ông Cohen nói mình đã phạm luật tài trợ tranh cử khi giao tiền để mua sự im lặng của 2 nữ ngôi sao phim người lớn, theo chỉ đạo của “một ứng cử viên liên bang”.
| Ông Michael Cohen là cựu luật sư riêng lâu năm của Tổng thống Donald Trump. |
Dù ông Cohen không trực tiếp nêu tên Tổng thống Trump, nhưng nhiều người mặc định đó chính là “ứng cử viên Trump”. Những người bài xích ông Trump đã xem lời chứng của ông Cohen như một nhát dao chí mạng đang bổ vào chiếc ghế của Tổng thống Trump. Tuy nhiên, theo tờ Daily Caller, họ có thể đang ăn mừng quá sớm.
Tờ báo này cho rằng cần phải đặt lời chứng của ông Michael Cohen vào đúng ngữ cảnh. Đầu tiên, lời khai của ông Cohen là một phần của một thỏa thuận bào chữa. Điều này có nghĩa là công tố viên đã đề nghị ông Cohen một "thỏa thuận" ở một số phương diện cho lời khai của ông.
Thông thường, một thỏa thuận bào chữa bao gồm một cáo buộc thấp hơn và án phạt nhẹ hơn. Và việc một bị cáo đạt thỏa thuận bào chữa không có nghĩa lời khai của anh ta là trung thực hay được chứng thực.
Trong khi đó, theo tờ Epoch Times thì với các tội danh đã nhận, ông Cohen có thể bị tuyên án tối đa tới 65 năm tù. Vì vậy, thỏa thuận với tòa án được xem là một cách để giúp ông nhận được sự khoan hồng.
Tổng thống Trump từ trước đến nay luôn phàn nàn ngành Tư pháp đang tiến hành những “cuộc săn phù thủy” đối với ông, nên nếu nhìn theo quan điểm của ông Trump, không loại trừ tòa án đã mớm lời bất lợi vào miệng ông Cohen để đổi lại cho ông ta một bản án nhẹ.
Một vấn đề nữa, theo các chuyên gia, một thỏa thuận bào chữa không phải là một phán quyết của tòa án và không tạo ra tiền đề pháp lý. Nói cách khác, thỏa thuận của ông Cohen không thể được sử dụng hoặc đưa ra trước tòa án như một bằng chứng pháp lý. Tòa án quận Nam New York (SDNY) đã khiến nhiều người ngạc nhiên khi gọi khoản thanh toán của ông Cohen cho ngôi sao khiêu dâm Stephanie Clifford (còn được gọi Stormy Daniels) là một khoản “đóng góp” cho chiến dịch bầu cử Trump và đã vượt quá giới hạn pháp lý.
Điều khiến người ta ngạc nhiên là làm sao các công tố viên biết khoản tiền để bịt miệng bà Clifford là một đóng góp chiến dịch? “Đơn giản, bởi vì họ nói, nên phải làm như vậy, và điều đó là tốt cho họ”, nhà báo Brian Cates nói. Tại tòa án, các công tố viên thậm chí đã tuyên bố rằng ông Cohen và khách hàng của ông đã thực hiện một khoản thanh toán 130.000 đô la để “ảnh hưởng đến cuộc bầu cử”.
Thế nào là vi phạm tài chính tranh cử?
Trong thực tế, theo tờ Epoch Times, ông Cohen chưa bao giờ làm việc cho chiến dịch Trump và không có quyền truy cập vào tài khoản chiến dịch Trump, cũng như không sử dụng bất kỳ khoản tiền nào được quyên góp cho chiến dịch Trump để thực hiện khoản thanh toán ở trên.
Vì vậy, một cựu chủ tịch Ủy ban Bầu cử liên bang Hoa Kỳ (FEC), ông Bradley Smith, đã công khai lên tiếng hành vi chi tiền bịt miệng của ông Cohen (nếu có) cũng không phải là vi phạm tài chính của chiến dịch.
“Chi phí chiến dịch là những khoản tiền chỉ được sử dụng cho hoạt động chiến dịch. Nó phải đến từ một hoạt động chiến dịch, không phải là một hoạt động đã xảy ra trước một chiến dịch. Một ứng cử viên dành tiền của riêng mình hoặc thậm chí tiền của công ty cho một sự kiện đã xảy ra, không phải là kết quả của chiến dịch, sẽ không trở thành chi tiêu chiến dịch”, luật sư Mark Levin giải thích về chi phí chiến dịch tranh cử.
Ông Levin đã đưa ra một số ví dụ để minh họa cho điểm quan trọng này. Chẳng hạn, sẽ không phải là chi phí chiến dịch nếu ứng cử viên nói với luật sư của mình cần đạt được thỏa thuận không tiết lộ và đề nghị trả bằng tiền túi của ứng viên để (bà X) không tấn công ứng viên về điều gì đó đã xảy ra trước chiến dịch.
Một ví dụ khác, chẳng hạng một người đang chạy đua vào Thượng viện. Trong chiến dịch, ai đó cáo buộc ứng cử viên một cái gì đó và đe dọa làm hỏng chiến dịch của ông ta. Nếu ứng cử viên nói với luật sư của mình chuẩn bị một thỏa thuận không tiết lộ và đồng ý trả cho người đó bằng tiền túi hoặc tiền của công ty để người đó giữ bí mật, thì không cấu thành một chi tiêu chiến dịch. Nhưng nếu tiền “giữ yên lặng” được trả từ các quỹ chiến dịch đã huy động được, điều đó sẽ là bất hợp pháp.
Ngoài ra, giả sử ông Cohen thành thật khi tuyên bố ông trả tiền cho 2 người phụ nữ “theo chỉ đạo” của một ứng viên không xác định nhằm ảnh hưởng “cuộc bầu cử tổng thống năm 2016”, thì nó có thể không tạo ra bất kỳ sự khác biệt nào.
Theo ông Levin, vì hành vi gọi là “cố gắng ảnh hưởng” đến một chiến dịch không nhất thiết có nghĩa là hành vi vi phạm luật tài chính của chiến dịch. Nó cũng giống như một ứng viên tự bỏ tiền túi để ăn mặc đồ đẹp hơn nhằm thu hút cử tri hơn. Rõ ràng, điều này có thể được hiểu là hành vi được thực hiện với mục đích ảnh hưởng đến một cuộc bầu cử, tuy nhiên không vi phạm luật tài chính của chiến dịch.
Khả năng bị luận tội?
Nhiều chuyên gia luật pháp cho rằng Tổng thống Mỹ không thể bị truy tố khi đang tại chức, và nếu một tổng thống phạm tội hình sự, biện pháp xử lý thích hợp là luận tội. Hiến pháp Mỹ nêu rõ tổng thống có thể bị luận tội với các hành vi phản quốc, hối lộ hoặc "các tội nặng, nhẹ khác".
Tòa án Tối cao Mỹ không quy định một tổng thống tại vị có thể bị kết tội hình sự hay không, nhưng trong một văn bản năm 2000, Bộ Tư pháp Mỹ kết luận quy trình tố tụng hình sự sẽ gây trở ngại đến việc điều hành đất nước của tổng thống.
Quy trình luận tội tổng thống Mỹ sẽ bắt đầu với việc các hạ nghị sĩ Mỹ đưa ra lời buộc tội, tương tự cách đưa ra các dự luật thông thường, hoặc Hạ viện có thể khởi động tiến trình này bằng cách thông qua quyết định cho phép tiến hành điều tra. Quyết định luận tội cần được hơn 50% nghị sĩ ở Hạ viện thông qua. Tuy nhiên, việc phế truất tổng thống đòi hỏi sự đồng thuận của ít nhất 2/3 số nghị sĩ ở Thượng viện.
Trong lịch sử, 2 tổng thống Mỹ từng bị luận tội là cựu Tổng thống Andrew Johnson, bị luận tội vào năm 1868, và cựu Tổng thống Bill Clinton, bị luận tội vào năm 1998. Trong cả 2 trường hợp, số đông Thượng nghị sĩ đều không thông qua quyết định phế truất và 2 tổng thống trên được giữ chức vụ. Nếu tổng thống bị luận tội và bị phế truất, phó tổng thống sẽ nắm quyền điều hành cho đến kỳ bầu cử tổng thống tiếp theo.
Các chuyên gia pháp lý vẫn tranh cãi về việc Tổng thống Trump có thể bị luận tội với cáo buộc ông chỉ đạo cựu luật sư Cohen thực hiện các hành vi vi phạm tài chính trong tranh cử hay không. Quốc hội Mỹ toàn quyền quyết định "các tội nặng, nhẹ" được nêu trong Hiến pháp. Trong khi Quốc hội cần tham khảo Luật hình sự của Mỹ để đưa ra kết luận, cơ quan này không bị ràng buộc bởi bộ luật này, nhiều chuyên gia cho biết.