Dự luật được thảo luận tại Quốc hội sáng nay, 30/5, sau đó hoàn thiện để thông qua vào cuối kỳ. Cũng như nhiều dự luật khác, việc sửa đổi thường được chú ý ở mảng mở rộng phạm vi, địa bàn hoạt động. Với dự luật Hải quan, phạm vi, địa bàn được quy định tại Điều 7. Ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật cho biết, qua thảo luận, có ý kiến tán thành với quy định về địa bàn hoạt động hải quan như trong dự thảo Luật, trong khi có ý kiến đề nghị cân nhắc việc quy định địa bàn hoạt động hải quan trên các vùng biển Việt Nam, vì cho rằng cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chỉ có thể kiểm soát trong vùng nội thủy, vùng lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải. Có ý kiến đề nghị xác định rõ địa bàn hoạt động hải quan ngay trong Luật này mà không giao Chính phủ quy định.
Theo UBTV Quốc hội, quy định của Luật biển Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì ngoài vùng nội thủy, vùng lãnh hải, Nhà nước ta thực hiện quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác, quản lý, bảo tồn tài nguyên và các hoạt động khác vì mục đích kinh tế tại vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế. Do đó, nếu trong các vùng biển này xuất hiện yêu cầu về kiểm tra hải quan thì cần phải giao cho cơ quan hải quan thực hiện. Đây là thực tiễn đang diễn ra tại một số địa điểm trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam, như địa điểm khai thác dầu khí, xuất khẩu dầu thô...
Quy định này cũng là kế thừa quy định của Luật hải quan hiện hành. Như vậy, dự thảo Luật quy định việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan hải quan trong địa bàn hoạt động hải quan, bao gồm cả các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam (khoản 2 Điều 7) là bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Luật biển Việt Nam và các quy định khác của pháp luật có liên quan, phù hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn quản lý về hải quan.
Về việc giao Chính phủ quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, UBTV Quốc hội cho rằng, phạm vi địa bàn hoạt động hải quan là rất đa dạng, không chỉ ở phạm vi bến cảng, sân bay quốc tế, cửa khẩu biên giới đường bộ mà còn nhiều lối mở khác để phục vụ cho nhân dân qua lại biên giới. Ở những địa bàn biên giới, phạm vi địa bàn hoạt động hải quan được xác định theo tọa độ cụ thể phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn. Hơn nữa, việc xác định địa bàn hoạt động hải quan cụ thể còn phụ thuộc vào tình hình quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội của từng địa bàn và trong từng thời điểm. Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2002/NĐ-CP ngày 23/12/2002 quy định phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; quan hệ phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan.
| Điều 7. Địa bàn hoạt động hải quan 1. Địa bàn hoạt động hải quan bao gồm: a) Khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế; cảng biển, cảng thủy nội địa có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khu vực đang lưu giữ hàng hóa chịu sự giám sát hải quan, khu chế xuất, khu vực ưu đãi hải quan; các địa điểm làm thủ tục hải quan, kho ngoại quan, kho bảo thuế, bưu điện quốc tế, trụ sở người khai hải quan khi kiểm tra sau thông quan; các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ hải quan; b) Khu vực, địa điểm khác đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, được phép xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. 2. Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan phù hợp với pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 3. Chính phủ quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan. |