Chính vì vậy, người dân
Cựu phóng viên Tom Gross của tờ báo Anh Sunday Telegraph (người trước đó đã nhiều lần tác nghiệp tại Bờ Tây) vừa có dịp quay trở lại khu vực này vào đầu tháng 12-2009 đã mô tả những thay đổi mà theo ông khó có thể tưởng tượng nổi tại những thành phố ở Bờ Tây trên tạp chí National Review: "Thành phố tràn đầy sức sống và những biểu tượng phồn vinh mà tôi chưa từng thấy từ nhiều năm trước khi làm việc tại khu vực này... Các cửa hàng và tiệm ăn đầy người... Trên đường phố có nhiều loại xe hạng sang như BMW và Mercedes hơn cả tại
Theo Giám đốc Ahmad Aveida của Ủy ban Chứng khoán Palestine (Palestinian Securities Exchange), thị trường chứng khoán tại Nablus vào năm 2009 đang đứng thứ hai thế giới về lợi nhuận chỉ sau Thượng Hải. Còn phải kể tới một vài con số và sự kiện khác: tăng trưởng kinh tế của Bờ Tây có tỉ lệ trung bình 7% mỗi năm (theo các nhà chức trách tại đây, con số thực tế phải là 11%); trong quý 3/2009 đã ghi nhận sự bùng nổ của khách du lịch (gần 136 ngàn du khách đến từ châu Âu và châu Mỹ lấp đầy tất cả 89 khách sạn); tổng sản lượng buôn bán với Israel tăng 82%; xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp tăng 200% v.v...
Bên cạnh những dấu hiệu hòa bình và phồn vinh trên, những hình ảnh nhắc nhở mọi người về sự tồn tại của cuộc xung đột Israel - Palestine (các lô cốt và trạm kiểm soát quân sự của Israel) tại khu vực Bờ Tây ước tính đã giảm tới 2/3, giúp cho tình hình thông thương qua lại giữa các thành phố và địa điểm dân cư tại đây đã được cải thiện đáng kể.
Tất cả những đổi thay khó tin trên, theo đánh giá của các nhà quan sát, là nhờ vào vai trò rất lớn của Salam Fayyad, đương kim Thủ tướng Palestine.
Salam Fayyad sinh năm 1952 tại thành phố Tulkarm nằm trên Bờ Tây. Nhận tấm bằng đại học tại Trường đại học Tổng hợp Mỹ ở
Từ năm 2001, Salam Fayyad trở thành Bộ trưởng Kinh tế trong chính quyền tự trị Palestine, trước khi được Tổng thống Mahmoud Abbas bổ nhiệm làm người đứng đầu chính phủ. Là một nhà kỹ trị phi đảng phái thuần túy, nên Fayyad về cơ bản không có được một sự hậu thuẫn chính trị riêng. Đối với nhiều quan chức trong phong trào Fatah cầm quyền, ông thường chỉ được coi là "một kẻ ngoài cuộc", "một nhân vật của tình thế".
Còn đối với Hamas, tổ chức đang điều hành Dải Gaza, Fayyad còn bị coi là kẻ phản bội. Chính vì vậy, sự tồn tại về chính trị của Fayyad phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm của Abbas, người mới đây đã lên tiếng khẳng định sẽ không ra tái tranh cử.
Hiểu được vị thế của mình, Salam Fayyad luôn cố gắng củng cố những thành công của mình với vai trò một nhà quản trị hàng đầu, qua đó dần dần thu hút được những ảnh hưởng chính trị đáng kể trong người dân Palestine cũng như cộng đồng quốc tế.
Ít nhất trong con mắt của "người ngoài", khả năng của Fayyad đã chính thức được thừa nhận và được đánh giá cao. Một minh chứng cho nhận định này là chuyến thăm Palestine tháng 11/2009 của một nhóm các nghị sĩ Mỹ do Thượng nghị sĩ Josef Lieberman và Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Howard Berman dẫn đầu.
Thực sự ấn tượng trước những thay đổi tại Ramallah, Nghị sĩ Berman đã tuyên bố: "Mối quan hệ Mỹ -
Ngoài những thành công về kinh tế, Salam Fayyad còn được đánh giá có một bước đi quan trọng về mặt đối ngoại với việc công bố một văn kiện được coi là “Kế hoạch đơn phương xác lập một Nhà nước Palestine tại Bờ Tây và phía đông Jerusalem sau quá trình xây dựng quốc gia trong hai năm", trong đó đặt ra một loạt các vấn đề yêu cầu phía Israel phải nhượng bộ.
Fayyad cam kết bản kế hoạch của ông sẽ không có kịch bản tuyên bố độc lập cho Palestine một cách đơn phương, mà sẽ tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng và các cơ quan chính trị của nhà nước tương lai, tương tự những người đã sáng lập ra Nhà nước Do Thái đã làm trước khi chính thức "khai sinh" ra nó vào năm 1948. Đa số trong hàng ngũ lãnh đạo Fatah tỏ ra chống đối kế hoạch trên.
Trước đó, trong cuộc bầu cử hồi tháng 8/2009, "kẻ ngoài cuộc" Fayyad đã không được bầu vào hàng ngũ ban lãnh đạo. Ngay trong tháng 1/2010, người dân
Tham vọng và quyết tâm của Salam Fayyad hoàn toàn có cơ sở khi ngày càng có nhiều người ủng hộ quan điểm tránh đối đầu để cùng tồn tại hòa bình với