Thuận theo đặc tính tự nhiên của dòng sông
Chiều 21/9, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Sông Hồng - Biểu tượng phát triển mới của Thủ đô”, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, kiến trúc sư trong nhiều lĩnh vực.
Tại buổi toạ đàm, GS.TS Lê Văn Nghị đặc biệt lưu ý sự thay đổi của lòng sông trong khoảng thời gian gần đây. Theo nghiên cứu, lòng sông Hồng có sự biến động về độ sâu, trong đó có những khu vực thay đổi đáng kể so với thời điểm xây dựng quy hoạch phòng, chống lũ.
Vì vậy, việc phát triển, cải tạo và sử dụng đất khu vực bãi sông cần được tính toán trên cơ sở tổng thể dòng sông Hồng. Trong đó, nên tính toán mật độ đô thị, khả năng thoát nước, tác động của các công trình và phương án tổ chức không gian để đánh giá liệu việc phát triển đô thị có làm gia tăng nguy cơ lũ hay không.
Đối với Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, GS.TS Lê Văn Nghị cho rằng, cần nghiên cứu vị trí tuyến đường trong mối quan hệ với bãi sông, đồng thời đánh giá tác động của các công trình đối với phân bố dòng chảy và lưu lượng thiết kế. Đây là những vấn đề cần được tính toán, cân nhắc trong quá trình hoàn thiện quy hoạch.
Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng mở ra không gian phát triển mới cho Thủ đô, song các chuyên gia góp ý, quy hoạch phải đặt yêu cầu an toàn, thoát lũ và bảo tồn hệ sinh thái làm nền tảng, từ đó tổ chức không gian phát triển phù hợp với đặc tính biến thiên của dòng sông.
Theo KTS Trần Huy Ánh, những nguyên tắc quan trọng đối với không gian sông Hồng đã được xác định khá rõ về mặt pháp lý. Quyết định số 6142/QĐ-UBND ngày 11-12-2025 của UBND thành phố Hà Nội về phê duyệt nhiệm vụ “Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000 (đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở)” yêu cầu việc lập quy hoạch phải căn cứ Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18-2-2016 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và Quyết định số 429 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 257.
KTS Trần Huy Ánh cho rằng, “ranh giới đỏ” được xác định trong các quyết định này chính là không gian thoát lũ, gồm lòng sông và bãi sông nằm giữa hai đê. Đáng chú ý, trong không gian thoát lũ có 6 nội dung không được thực hiện: Không xây dựng công trình gây cản trở dòng chảy; không gây cản lũ, làm mất không gian chứa lũ; không ảnh hưởng đến dòng chảy hoặc để xảy ra nguy hiểm, mất an toàn; không gây tổn thất về người và tài sản khi có lũ lớn; không nâng cao các tuyến đê bối hiện có và không xây dựng đê bối mới.
Hai yêu cầu được thực hiện là tuân thủ Luật Đê điều và giữ nguyên vị trí các tuyến đê hiện có. Những nguyên tắc này cho thấy phát triển không gian ven sông không thể tách rời yêu cầu bảo đảm an toàn phòng, chống lũ. Mọi ý tưởng tổ chức không gian, khai thác cảnh quan hay phát triển đô thị đều phải được đặt trong giới hạn của hành lang thoát lũ và các quy định về đê điều.
Cùng nhìn từ góc độ khoa học tự nhiên, KTS Trần Minh Tuấn, Nhóm nghiên cứu Không gian mặt nước Hà Nội cho rằng, điều quan trọng trước hết là phải nghiên cứu kỹ đặc điểm của sông Hồng, đặc biệt là sự biến thiên mực nước, để đưa ra giải pháp phù hợp.
Theo ông Tuấn, có thời điểm mực nước sông Hồng xuống rất thấp, khoảng 1-2m, nhưng có lúc lên tới 10,5m. Bởi vậy, cách tiếp cận phù hợp là “sống chung với dòng sông”. Đây không chỉ là câu chuyện xử lý ngập lụt mà còn là tổ chức không gian đô thị: Thuận theo đặc tính tự nhiên của dòng sông.
Bài toán cốt lõi là tổ chức được hành lang thoát lũ phù hợp
Theo GS.TS Lê Văn Nghị, bài toán cốt lõi là tổ chức được hành lang thoát lũ phù hợp. Trên một dòng sông, dòng chảy động lực chính tập trung ở lòng sông, sau đó giảm dần về phía bãi sông. Trong khi đó, không gian bãi sông Hồng hiện có sự biến đổi rất lớn, nơi phình rộng, nơi thu hẹp. Vì vậy, khi tổ chức lại không gian bãi sông cần tạo được hành lang thoát lũ, bảo đảm dòng nước không bị cản trở khi mùa lũ đến.
Ngoài ra, sông Hồng cũng có biên độ biến đổi mực nước giữa mùa kiệt và mùa lũ rất lớn, đây là cơ sở để tính toán không gian ven sông theo các tầng, bậc khác nhau. Theo GS.TS Lê Văn Nghị, trước hết phải là lòng sông chính, tiếp đến là khu vực thường xuyên ngập lũ, rồi khu vực ít ngập hơn và sau đó mới đến không gian đô thị. Ngay trong khu vực đô thị cũng cần xác định mức độ rủi ro, mức độ an toàn phù hợp thay vì áp dụng cứng nhắc một tiêu chuẩn cho mọi khu vực.
Cần đồng thời giải quyết hai bài toán an toàn. Một là an toàn cho hệ thống đê sông Hồng, bảo đảm phát triển đô thị không làm gia tăng mực nước, ảnh hưởng đến khả năng chống lũ của hệ thống đê. Hai là an toàn của chính đô thị được hình thành trong không gian ven sông, để khi xảy ra thiên tai lớn, khó lường, công trình và hạ tầng vẫn có khả năng thích ứng nhất định.
Hai yêu cầu này cần được tính toán ngay từ quá trình quy hoạch và triển khai xây dựng. Khai thác không gian, tiềm năng của sông Hồng vì thế phải đi cùng bảo đảm an toàn lâu dài cho hệ thống đê và khu vực đô thị.
KTS Tô Anh Tuấn cũng nhấn mạnh: Ưu tiên đầu tiên của không gian sông Hồng là thoát lũ. Và thoát lũ không chỉ vì lũ mà chính là bảo đảm an toàn cho cuộc sống người dân, an toàn cho thành phố.
Từ yêu cầu đó, một phần lớn diện tích bãi sông cần dành cho cây xanh. Vùng bãi sông có độ dốc từ đê về lòng sông và có thể tổ chức thành các lớp không gian. Lớp thấp nhất là khu vực bảo tồn thiên nhiên, chủ yếu trồng những loại cây có thể chung sống với lũ. Lớp tiếp theo, khoảng từ cao độ 7,5-9,5m, ít ngập hơn, có thể khai thác cho sản xuất nông nghiệp, trồng cây ngắn ngày hoặc công viên, vui chơi, giải trí với mức độ công trình và trang thiết bị hạn chế, chấp nhận khả năng ngập trong vài ngày.
Lớp từ 9,5 đến 11,5m là khu vực hiếm ngập có thể là không gian công viên thường xuyên, công viên đô thị, công viên chuyên đề kết hợp trồng cây với du lịch, vui chơi, giải trí hoặc thể thao.
KTS Tô Anh Tuấn cũng nhấn mạnh yêu cầu liên kết giữa khu vực đô thị, không gian cây xanh và người dân. Về kỹ thuật, cần tạo điều kiện để người dân từ các khu phố có thể dễ dàng tiếp cận không gian xanh. Nhưng quan trọng hơn, không gian ấy phải đáp ứng nhu cầu, mong muốn và sở thích của cộng đồng, qua đó tạo nên sự gắn kết xã hội.